-->

Tìm Kiếm Trong Blog Tâm Linh Học

Loading

2011-08-19

Kinh Thủ Lăng Nghiêm-Chương 8-9-10


CHƯƠNG THỨ TÁM
I – PHẬT DẠY BA MÓN TIỆM THỨ
Thế nào là ba món tiệm thứ ? Một là tu tập, trừ các trợ nhân.
Hai là chân tu, trau dồi chánh tánh.
Ba là tăng tiến, ngược dòng hiện nghiệp. Thế nào là trừ các trợ nhân ?
Nầy A Nan ! Mười hai loại chúng sanh trong thế giới không thể tự toàn thánh thiện, cần phải nương theo bốn cách ăn mà được tồn sinh. Đó là đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Vì vậy, Như Lai nói tất cả chúng sanh nhờ ăn mà được sống còn.
Đoạn thực là ăn các thứ ngũ cốc, ngũ quả, ăn từng nắm vắt, từng miếng, từng cái, mà chúng sanh thọ dụng hàng ngày.
Xúc thực là nhờ sự tiếp xúc của căn và trần sanh ra cảm thọ vui buồn, như coi hát, xem phim… làm cho con người thấy khỏe khoắn kéo dài sự sống.
Tư thực là nhớ nghĩ những điều thích thú đã qua, hy vọng gì toại lòng sắp đến, cũng là cách giúp cho sự sống tồn sinh.
Thức thực là A lại da thức duy trì dòng sanh mệnh, làm chỗ y chỉ cho tiền thất thức. Chúng sanh các ông đã quay về đạo vô thượng của Như Lai, thì hãy khéo léo điều hòa
các cách ăn của mình, đừng để rơi vào tửu nhục bê tha, sắc thanh phóng túng, hy vọng
đảo điên với một tâm hồn đen tối, trong một thể xác buông trôi trong biển đời ô trược.
Hãy chủ động các cách ăn, gọi là tu tập trừ các trợ nhân. Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.
Thế nào là trau dồi chánh tánh ?
A Nan ! Hành giả muốn vào tam ma đề, trước hết phải giữ gìn giới luật cho thanh tịnh. Phải đoạn tâm dâm và tâm sát. Người tu hành không dứt tâm tham dâm hiếu sát mà mong ra khỏi ba cõi là điều không thể có. Phải giữ tứ trọng và bát khí của Thanh văn tiến lên hành trì tam tụ tịnh giới của Bồ tát. Giữ giới dâm được thanh tịnh thì cắt đứt nghiệp nhân sanh nhau, giết nhau ở thế gian. Giữ giới trộm cướp thanh tịnh thì không còn nợ trần vay trả kiếp nầy kiếp nọ trong lục thú. Thành tựu tam ma đề thì cái nhục thân cha mẹ sanh ra không cần thiên nhãn tự thấy được thế giới trong mười phương, thấy Phật, nghe pháp, chính mình vâng lãnh thánh chỉ của Phật, được đại thần thông dạo khắp thập phương thế giới… Đó gọi là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ hai.
Thế nào là ngược dòng hiện nghiệp ?
A Nan ! Người giữ giới cấm thanh tịnh, tâm ý trong sáng, tam nghiệp điều thuận, không rong ruổi theo lục trần và tự biết tánh bản nguyên. Trần chẳng tương duyên thì tâm không bị dính mắc buộc ràng, đi ngược dòng hiện nghiệp trở về thể tánh tịnh minh; sáu thức trong sáng như pha lê, nhìn cõi nước trong mười phương một màu trong suốt như ngọc lưu ly toàn bích có ánh trăng tròn sáng ảnh hiện vào trong. Thân tâm hành giả, bấy giờ khinh an khoan khoái trong thể tánh nhiệm mầu và mười phương Như Lai một thời cùng hiện, hành giả chứng nhập pháp nhẫn vô sanh. Sự tu tập từ đó dần dần tăng tiến, rồi dựa trên mức độ giải thoát giác ngộ của hành giả mà an lập địa vị thánh hiền. Đó là món tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.
TRỰC CHỈ
“Tiệm” và “đốn” là hai thuật ngữ của đạo Phật. Tiệm có nghĩa là dần dần, tu dần dần, học hiểu dần dần và dần dần chứng đắc, từ quả vị thấp đến quả vị cao. “Đốn” là nhanh chóng, thẳng tắt vượt bậc. Như nghe pháp liễu nghĩa đại thừa, liền tỏ ngộ một cách sâu sắc, không bị sự phân vân đấu tranh trong quá trình nhận thức chân lý. Do đó, sự giải thoát giác ngộ vượt bậc không hạn cuộc bởi thời gian và pháp môn tu tập nào. Luận xét
về căn cơ của chúng sanh thì có nhiều hạng. Có người chỉ tu tập pháp “tiệm tu tiệm ngộ”. Có người thì “đốn ngộ” nhưng cần phải “tiệm tu”. Có người thì “đốn tu” mà “tiệm ngộ”. Chỉ có hạng “đốn ngộ đốn tu” là hạng người “bạt tục siêu quần, vạn trung vô nhất”.
Cùng một đích đến, mà phương tiện di chuyển khác nhau thì sự hiện diện sau trước khác nhau. Ai đi máy bay thì đến trước, sử dụng ô tô thì phải chịu hạng nhì, cỡi xe gắn máy thậm chí với người đi bộ, trước sau vẫn đến, nhưng sự có mặt hoàn toàn lệ thuộc với thời gian. Vấn đề đốn tiệm trong việc tu hành tiến bộ chậm mau hoàn toàn tùy thuộc căn cơ
và chủng tánh.
Phật dạy ba môn tiệm thứ nhằm mở rộng cửa Niết bàn, đón nhận hết mọi chủng tánh, căn cơ.
Địa vị Hiền, Thánh, Đẳng giác và Phật, cả thảy 55 bậc. Tiêu chuẩn xét đoán đều căn cứ nơi “tâm” và “hạnh” mà ước định quả vị ở vào thứ bậc nào. Thứ bậc có trên dưới, quả vị có thấp cao, người đệ tử Phật uyên thâm giáo lý, hiểu ngay rằng: Đó là phương tiện giả lập. Tâm hạnh của người đạt đạo làm sao lấy thước mà đo ? Người chứng đắc đạo quả, thấy rằng mình có chứng đắc vốn là đã là sai. Nói có địa vị thấp cao, phải hiểu đó là phương tiện của Như Lai vận dụng !
II – CÁC ĐỊA VỊ TRONG TIẾN TRÌNH TU CHỨNG
1. Địa vị càn tuệ
Phật bảo: A Nan ! Khi có người thiện nam phát ý tu hành đến giai đoạn ái dục khô cạn,
căn cảnh không còn dính mắc nặng sâu, tâm luyến ái được vơi nhẹ, nhờ vậy họ thường
giữ tâm trụ ở chỗ rỗng không và trong sáng. Họ chỉ sử dụng thuần một mặt lý trí mà quan sát mà đánh giá nhận thức hiện tượng vạn pháp trong thế giới mười phương. Họ khô cạn hết những tập khí dục nhiễm luyến ái ở cõi đời, nhưng họ chưa tiếp thu được dòng nước pháp hỉ khinh an của Như Lai, họ chỉ có một thứ lý trí khô khan, cho nên gọi là CÀN TUỆ ĐỊA.
TRỰC CHỈ
Dựa trên công dụng chuyển mê khải ngộ của con người, Như Lai phương tiện triển khai các thành vị. Càn tuệ địa nói dễ hiểu là những hạng người tu hành bắt đầu khô khan tình cảm của thế gian. Họ chinh phục và chiến thắng được những dục nhiễm luyến ái của thường tình, họ bắt đầu sống nghiêng nặng về mặt lý trí trong sáng, cứng rắn.
Người phát tâm tu hành, công việc đầu tiên phải học tập và tự huấn luyện cho mình sống nhiều lý trí. Vì đỉnh cao của lý trí chính là địa vị CÀN TUỆ nầy.
Con người tâm hồn ướt át, tình cảm rạt rào mà mong học tu đạo giải thoát, chẳng khác nào đào giếng tìm nguồn nước để uống với một nhát cuốc đầu tiên tung tóe mịt mù cát bụi !
2. Địa vị thập tín
* Tín tâm. Từ địa vị Càn tuệ phát huy tánh nhiệm mầu tròn sáng của chơn tâm, ức chế
các vọng tưởng, hướng tâm vào chân lý trung đạo.
* Niệm tâm. Có tín tâm chân chánh, chánh trí phát sanh ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới không còn là những chướng ngại ngăn che mà còn có thể nhớ lại những việc xa xưa của đời mình trong nhiều kiếp.
* Tinh tấn tâm. Chánh trí ngày càng hiển hiện, tập khí bất thiện vô thỉ bị đồng hóa theo tánh tịnh minh và giữ vững tánh tịnh minh tiến dần đến chỗ chân tịnh.
* Tuệ tâm. Tâm tánh tịnh minh được liên tục hiện tiền, thường sống và tư duy trong trí tuệ.
* Định tâm. Duy trì và phát huy trí tuệ đã có. Tâm ý an trụ trong cảnh tịch tĩnh và sanh ra một định lực trong sáng.
* Bất thối tâm. Do định lực phát sanh trí tuệ ngày một tăng tiến mà không có thoát thất.
* Hộ pháp tâm. Định tuệ tự nhiên tăng trưởng theo đà tiên tiến, hành giả giao tiếp từng phần phước, trí hùng lực của thập phương Như Lai.
* Hồi hướng tâm. Thường giác tỉnh trong tánh giác minh. Xoay tánh giác minh an trú nơi trí quang Phật, như hai tấm gương đối chiếu, những hình ảnh trong gương y hệt nhau.
* Giới tâm. Xoay về an trú nơi trí quang Phật. Nhờ vậy, tâm càng thêm thanh tịnh an trụ
trong tịch tĩnh vô vi, xa rời những lối sinh hoạt hình thức hữu vi.
* Nguyện tâm. Giới tâm đã tự tại cho nên hành giả có thể vân du khắp cõi nước mười phương tùy nguyện của mình.
3. Địa vị thập trụ
* Phát tâm trụ: Hành giả vận dụng phương tiện phát khởi mười tâm ở hàng thập tín cho đến khi tâm tánh ấy còn ròng rặc một thể tịnh minh, viên dung thành một chân tâm sáng suốt viên mãn.
* Trị địa trụ: Nương nơi tâm trong sáng đã có trau dồi sửa trị cái tâm hiện tại khiến cho chân tâm trong sáng càng trong sáng hơn như khối lưu ly trong suốt và trong đó hiện ra vàng ròng.
* Tu hành trụ: Tâm địa thông suốt, công dụng nhận thức của sáu căn không còn bị ngăn ngại bởi sáu trần, tri kiến của hành giả có khả năng vận dụng quán sát khắp mười phương không có gì ngăn ngại.
* Sanh quí trụ: Đạt đến chỗ hạnh đồng như Phật và tiếp thụ từng phần Bồ đề Niết bàn của Phật, gia nhập dòng dõi của Như Lai, như thân trung ấm tìm cha mẹ âm tín đã thầm giao cảm với nhau rồi.
* Phương tiện cụ túc trụ: Đã vào đạo thai, nhờ sự nuôi dưỡng của giác tánh ví như bào thai đã thành hình đầy đủ.
* Chánh tâm trụ: Hình dung giống Phật, tâm tưởng cũng vậy.
* Bất thối trụ: Thân tâm đều thanh tịnh và sự thanh tịnh ngày một tăng mà không có lui sụt.
* Đồng chơn trụ: Mười thân có đủ trong một thời (1).
* Pháp vương tử trụ: Ví như hình vóc đã trưởng thành ra khỏi bào thai. Và chính mình đã trở thành con của đấng Pháp vương.
* Quản đảnh trụ: Ví như vị hoàng tử đã đến tuổi lớn khôn, nhà vua truyền trao quốc sự
cho Thái tử bằng một nghi lễ, xối nước bốn biển gội đầu.
4. Địa vị thập hạnh
* Hoan hỉ hạnh: Người thiện nam tử khi đã trở thành Phật tử rồi, có đầy đủ những đức tánh nhiệm mầu của Như Lai, bấy giờ có thể hoan hỉ và tùy thuận tất cả.
* Nhiêu tích hạnh: Người Phật tử khéo biết làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
* Vô sân hận hạnh: Hai hạnh tự giác và giác tha của người Phật tử đồng nhau và không chống trái nhau.
* Vô tận hạnh: Tùy loại chúng sanh mà hiện thân hóa độ, ba đời bình đẳng mười phương thông suốt cho đến cùng tận vị lai.
* Ly si loạn hạnh: Có trí tuệ trong sự nhận thức: Các pháp dị, hợp, thành, đồng. Pháp
Phật nhiều vô lượng, nhận thức không còn sai lầm.
* Thiện hiện hạnh: Các pháp đồng phân giải ra dị, nhiều pháp dị tổng hợp thành đồng.
* Vô trước hạnh: Đồng có thể hiện dị, dị có thể hiện đồng. Mỗi vi trần hiện mười phương thế giới, mỗi thế giới hiện mười phương hư không, hiện vi trần, hiện thế giới, hiện hư không mà không ngăn ngại gì nhau.
* Tôn trọng hạnh: Nhận thức rằng tất cả sự vật hiện tượng trước mắt đều là đệ nhất ba la mật đa.
* Thiện pháp hạnh: Nhận thức mọi hiện tượng vạn pháp viên dung tương tức tương nhập và sự nhận thức đó phù hợp thành một qui tắc chung của chư Phật mười phương.
* Chân thật hạnh: Nhận thức rằng tất cả pháp đều là thanh tịnh vô lậu, là vô vi trong pháp giới nhất chân. Vì tánh của các pháp vốn là như vậy.
5. Địa vị thập hồi hướng
* Cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng: Người Phật tử đầy đủ thần thông thành tựu Phật sự, thân tâm trong sáng, xa lìa các lỗi lầm, bấy giờ ra làm việc độ sanh mà diệt bỏ quan niệm năng độ sở độ, chỉ xoay tâm vô trụ chấp hướng về Niết bàn tịch tĩnh.
* Bất hoại hồi hướng: Hành giả có khả năng hoại những thứ cần diệt hoại. Có khả năng viễn ly những gì cần viễn ly. Năng giữ bản tâm trong sáng của mình.
* Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Tánh bản giác trong sáng của hành giả hiển hiện như
ngang bằng với Phật.
* Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Phát minh tận cùng cái chân giác, tâm địa của hành giả
gần như tâm Phật.
* Vô tận công đức tạng hồi hướng: Thế giới và Như Lai, trước mắt hành giả chỉ là một, chân lý và chân trí dung hợp nhau không có khoảng cách năng sở.
* Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Nhận thức rằng: tâm địa Phật và tâm địa của chúng sanh vốn đồng và trong chỗ đồng phát huy các nhân thanh tịnh riêng khác để thủ đắc Niết bàn.
* Tùy thuận đẳng pháp nhất thiết chúng sanh hồi hướng: Căn bản trí đã hiển lộ, nhận thức rằng: chính mình và tất cả chúng sanh đồng một bản thể chân như thanh tịnh.
* Chân như tướng hồi hướng: Nhận thức rằng: Tất cả là một, một là tất cả. Ly nhất thiết tướng mà không ly tướng nào. Ly và tức viên dung vô ngại.
* Vô phược giải thoát hồi hướng: Đã thể nhập chân như lý, hành giả tự tại trước mọi hiện tượng vạn pháp trong mười phương.
* Pháp giới vô lượng hồi hướng: Thành tựu viên mãn công đức thanh tịnh trong thể tánh chân như, bấy giờ trước mắt hành giả, pháp giới trở thành “nhất chân”, quan niệm ranh giới cách ngăn không còn nữa
6. Địa vị tứ gia hạnh
A Nan ! Người đệ tử Phật vượt qua các địa vị Hướng, Hạnh, Trụ, Tín và Càn tuệ 41 tâm
ấy rồi tiến lên tu tập bốn địa vị gia hạnh nầy.
* Noãn vị: Hành giả liên tục phát huy cái tuệ giác Phật làm tâm mình, ví như dùi gỗ lấy lửa để đốt gỗ, lửa sắp phát ra mà chưa phát.
* Đảnh vị: Hành giả lấy tâm mình làm chỗ nương để phát huy tuệ giác Phật, giống như nương mà không phải nương, ví như người leo lên đảnh núi, thân đã vào hư không, nhưng chân còn bám một tí núi chưa rời khỏi.
* Nhẫn vị: Tâm ta và tâm Phật như nhau, khéo nhận thức lý trung đạo, ví như người biết nhẫn, không phải ôm vào cũng không phải xua ra.
* Thế đệ nhất vị: Tâm hành giả đạt đến chỗ vô sở trụ, diệt hết những phân biệt danh
ngôn, xóa bỏ hết những gì thuộc về lượng số. Vấn đề mê, giác, trung đạo đối với hành giả
như chẳng còn giá trị gì.
7. Địa vị thập địa
Phật dạy: A Nan ! Dựa trên công dụng tu hành, căn cứ thành quả giải thoát giác ngộ, thì quả vị thập địa gồm có những hạng người như sau:
* Hoan hỉ địa: Người đệ tử Phật đối đại Bồ đề thông suốt sâu sắc, tuệ giác của họ gần như
Phật, có khả năng nhận thức tột cùng cảnh giới của Phật.
* Ly cấu địa: Tất cả tánh dị biệt của vạn hữu hành giả nhận thấy là chung cùng, tánh chung cùng hành giả không thấy có cái chung cùng chơn thật, vì đó chỉ là hợp lại của những tánh dị biệt kia.
* Phát quang địa: Tâm thanh tịnh của hành giả đến độ tột cùng, bấy giờ trí tuệ trong sáng tự nhiên sanh ra mà hành giả không cần khởi công vận dụng.
* Diệm tuệ địa: Trí tuệ sáng suốt tột cùng, hành giả thường sống trong giác tỉnh trong mọi nơi chốn, mọi thời gian.
* Nan thắng địa: Khái niệm đồng dị, thân sơ, bĩ thử đối với hành giả không còn.
* Hiện tiền địa: Thể tánh tịnh minh vốn có nay đã hiện bày tỏ rõ, tâm thường trú hiển lộ
trong cuộc sống của hành giả thường xuyên.
* Viễn hành địa: Nhận thức rõ tột về bản thể chân như và sống hợp với bản thể chân như ấy.
* Bất động địa: Hành giả thể nhập với bản thể chân như.
* Thiện tuệ địa: Thể nhập bản thể chân như rồi, hành giả vận dụng chân như biểu hiện ra diệu dụng của chân như.
* Pháp vân địa: Hạnh tu tập đã xong, công đức viên mãn, lợi mình và tùy ý làm lợi cho người, ví như bóng mây lành che mát khiến cho chúng sanh vui chơi lặn lội trong biển Niết bàn.
8. Quả vị đẳng giác và diệu giác
Nầy A Nan ! Như Lai thì ngược dòng ngoảnh lại. Bồ tát thì thuận dòng mà tu tập tiến tới. Tuệ giác của hai đường giáp tuyến gặp nhau. Ở vào giai đoạn đó gọi là địa vị ĐẲNG GIÁC.
A Nan ! Từ địa vị Càn tuệ đến địa vị Đẳng giác là 53 địa vị. Tột cùng của địa vị Đẳng giác gọi là Kim Cang tâm. Ngoảnh nhìn lại trên quá trình tu tập từ ban đầu chặng giữa chẳng có chút gì sai khác: Lấy mười thí dụ làm đối tượng để tư duy quán chiếu. Đến khi CHỈ QUÁN quân bình là tột cùng quả Diệu Giác viên mãn thành tựu VÔ THƯƠÏNG BỒ ĐỀ.
A Nan ! Thành tựu Bồ đề Niết bàn Vô thượng, mười phương Như Lai cũng dựa vào ba món tiệm thứ mà tu hành tăng tiến rồi khéo bồi dưỡng và phát huy theo quá trình tiệm tiến trải qua 55 địa vị ấy mà đến vô thượng Bồ đề.
Người Phật tử tu học hiểu như thế là đúng chánh pháp, tin hiểu khác đi là người ngoại
đạo, tu tập sai lầm sẽ không có ngày thành tựu.
TRỰC CHỈ
Sau Càn tuệ địa, tiến lên: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, rồi Đẳng giác và Diệu giác 52 địa vị. Diệu giác là vị cao tột, tức là quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Sự giác ngộ giải thoát thực ra chẳng có lấy gì để đo chính xác được và cũng chẳng có tên gì để gọi cho đúng đắn được. Tất cả những tên gọi ấy chỉ là những phương tiện giả đặt của Như Lai. Cái danh tiêu biểu phần nào của hạnh, dựa trên hạnh mà giả đặt cái danh. Người tu hành không nên chấp nê quả vị hay khởi ý mong cầu. Người nấu nước, chỉ cần đun lửa tốt thì ấm nước tự sôi, vấn đề độ nóng bao nhiêu… chỉ là phương tiện danh ngôn giả lập.
Như Lai thì ngược dòng trở lại. Từ địa vị giác ngộ chân lý hoàn toàn, vì thương chúng sanh mà sống và sinh hoạt như chúng sanh để có cơ hội hướng dẫn cải tạo những mê mờ đau khổ của chúng sanh, còn Bồ tát thì thuận dòng, từ bể khổ sanh tử vươn lên, phát huy trí tuệ. Càn tuệ địa là điểm khởi hành. Trải qua 51 địa vị, đó là thời gian khai thác nhất thiết trí, đạo chủng trí, nhất thiết chủng trí, vô sư trí và tự nhiên trí của mình. Cuối cùng giao điểm giữa Phật và Bồ tát gặp nhau ở quả vị được gọi là đẳng giác.
Ở vào địa vị Đẳng giác, Bồ tát có được thứ trí Kim cang. Dùng trí Kim cang chiếu phá sạch những bóng đen sanh tướng vô minh vi tế tối hậu. Sanh tướng vô minh dứt sạch. Bồ đề, Niết bàn tự tánh hiện ra. Bồ tát nhìn lại quá trình tu tập trải qua giống như người vừa tỉnh giấc chiêm bao. Những chuyện khổ, vui, tội phước, tiêu trưởng vinh hư là chuyện
của một cơn trường mộng ! Đời là diệu dụng biểu hiện từ bản thể chân như. Bồ tát nhìn hiện tượng vạn hữu có mà không phải có thật, không mà chẳng phải thật không. Tất cả đều là như vật sắc trong chiêm bao, như hình ảnh khóc cười trên màn bạc, như trăng đáy nước, như hoa đốm trong không, như càn thát bà thành, như bóng trong gương, như mù sương buổi sáng, như điện nhoáng lưng trời, như bong bóng dưới cơn mưa… Nhờ vậy,
Bồ tát tự tại và nhẹ nhàng tiến bước trên con đường Bồ đề Niết bàn vô thượng, rồi nhìn lại, thì ra chính mình chẳng có được gì !
… “Đáo dĩ hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn vân vũ chiết giang triều”.
III – KINH THỦ LĂNG NGHIÊM CÓ NHIỀU TÊN GỌI
Đáp lời thưa hỏi của Bồ tát Văn Thù, đức Phật dạy: Kinh nầy có thể gọi nhiều tên:
* Đại Phật đảnh tất đát đa bát đát ra, vô thượng bảo ấn, thập phương Như Lai thanh tịnh hải nhãn.
* Cứu hộ thân nhân độ thoát A Nan cập thủ hội trung tánh tỳ kheo ni đắc Bồ đề tâm nhập biến trí hải.
* Như Lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩa.
* Đại phương quảng Diệu Liên Hoa vương thập phương Phật mẫu đà la ni chú.
* Quán đảnh chương cú, chư Bồ tát vạn hạnh Thủ Lăng Nghiêm.
Văn Thù, các ông nương theo đó mà phụng trì. Đại chúng nghe lời Phật dạy, liền tỏ ngộ diệu lý thiền na, tâm được rỗng rang, nhiều người dứt trừ được hoặc kiến tư, cắt đứt nhân sanh tử ưu bi trong tam giới.
IV – NHỮNG MỐI NGHI NGỜ SÂU SẮC CÓ TÍNH PHỔ BIẾN ĐƯƠ.C PHẬT DẠY BÀY
Bấy giờ ông A Nan đứng dậy cung kính chấp tay thưa:
Bạch Thế Tôn ! Theo lời Phật dạy, chân tâm vốn trong sáng nhiệm mầu, xưa nay tròn đầy khắp giáp và núi sông đất liền cỏ cây hoa lá điểu thú côn trùng đều cùng chung một bản thể chân như, tất cả đều là những dữ kiện tu hành thành tựu Phật quả của các Như Lai, hàng Thanh văn hữu học chúng tôi chưa dứt được mối nghi ngờ sâu sắc ấy !
Bạch Thế Tôn ! Bản thể chân như ấy vốn đã chân, cớ gì lại sanh ra các nẻo: Trời, người, A tu la, địa ngục, quỉ thần và súc sanh ? Sáu đường ấy bản lai tự có hay do những nghiệp thiện của chúng sanh chiêu cảm mà hiện khởi sanh ra ? Còn sự kiện Tỳ kheo ni Bảo Liên hương, lén lút làm việc dâm dục rồi lý luận sai lầm phá kiến giới của Phật, hiện đời bị địa ngục là thế nào ? Sự kiện vua Lưu Ly tận diệt giòng họ Cù đàm rửa oán, đối với sự hiểu biết thông thường của nhiều người vẫn còn là điều bí ẩn ! Vấn đề Thiện Tinh tỳ kheo bác không nhân quả, chủ trương đoạn diệt, hiện thế sa vào ngục A tỳ, thật tế phải hiểu như
thế nào ? Các địa ngục vốn có sẵn để hình phạt những chúng sanh ác hay sau khi những chúng sanh kia tạo ác, địa ngục mới có ra để hình phạt những con người bất thiện ?
Phật khen những câu hỏi của ông A Nan có ý nghĩa sâu xa, nhờ đó những chúng sanh đời sau khỏi rơi vào tà kiến.
Nầy A Nan ! Phật dạy, chân tánh của chúng sanh vốn chân vốn tịnh. Do nhận thức sai lầm chân lý, sống theo thói quen trái chân lý làm cho tánh chân tịnh bị chi phối mà sanh ra tình niệm chủ quan và tưởng niệm khách quan.
Tình niệm chủ quan là phần trong của con người. Do sự ái nhiễm của vọng tâm mà sanh
ra vọng tình. Tình chứa mãi không thôi bèn sanh ra một thứ nước, gọi đó là nước, “ái”. Vì vậy mà tâm chúng sanh khi nhớ đến thức ăn thì miệng nước bọt chảy ra, tâm nhớ người thương, con mắt lệ tràn, tâm nhớ giận đứa con hư cũng sụt sùi trào tuôn nước mắt, nước mũi, tâm nghĩ tưởng sự ân ái, hai căn nam nữ tân dịch tiết ra…
A Nan ! Ái có nhiều thứ khác nhau nhưng cái tánh ứa nước, chảy nước giống nhau. Tánh
ướt thì nặng, tánh nước thì chảy xuống không thể cất lên, đó là tánh tự nhiên của nó.
A Nan ! Tưởng niệm khách quan là phần ngoài của con người. Do thèm muốn khát vọng mà phát sanh ra lý tưởng. Tưởng chứa mãi không thôi bèn sanh ra một thứ khí thù thắng. Do vậy, tâm chúng sanh có giữ giới hạnh thanh tịnh thì người nhẹ nhàng sảng khoái, tâm chuyên trì chú ấn thì đôi mắt ngó có thần, tâm muốn sanh thiên, hành thập thiện nghiệp, chiêm bao thấy mình nhẹ nhàng, bay bổng trong không, tâm chuyên niệm hướng vào cõi Phật thì cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh đẹp đẽ hiện ra, tâm phụng sự thiện tri thức, thì tự xem rẻ thân mình.
A Nan ! Tưởng có nhiều thứ khác nhau, nhưng cái tánh nhẹ nhàng cất lên thì đồng. Tưởng nhẹ có tánh cất lên là tánh tự nhiên của nó.
A Nan ! Tất cả thế gian sống chết nối nhau. Sống thì bằng lòng, chết thì nghịch ý. Khi con người sắp chết, lúc hơi nóng chỉ còn hâm hấp mong manh, bấy giờ hành động thiện ác cả một đời đều hiện ra như trước mắt. Sự sống và sự chết hai tập khí mãnh liệt cạnh tranh đối kháng trước phút giây con người từ giã cõi đời. Thuần tưởng thì bay lên được sanh vào các cõi trời, nếu có phúc đức, trí tuệ, có chí nguyện thanh tịnh thì tự nhiên tâm được sáng suốt thấy được cõi nước thanh tịnh của chư Phật trong mười phương, rồi tùy ý của mình mà sanh vào thế giới đó.
Tình ít tưởng nhiều, cất lên được nhưng không xa. Hạng nầy thành đại lực quỉ vương, phi hành dạ xoa, địa hành la sát. Họ có thể đi khắp bốn cõi trời Tứ thiên vương, nếu có nguyện lành hộ trì Phật pháp, bảo vệ người trì giới, người tu thiền thì họ được thân cận dưới pháp tọa của Như Lai.
Tình và tưởng bằng nhau, thì sanh làm người ở nhân gian. Do có phần tưởng sáng suốt nên có chất thông minh, vì có phần tình mê ám nên có lẫn lộn phần ngu độn.
Tình nhiều tưởng ít sanh vào loại bàng sanh, nặng nghiệp xấu sanh làm giống lông mao, nhẹ nghiệp hơn sanh làm giống lông vũ.
Bảy phần tình ba phần tưởng có thể chìm tận thủy luân hoặc sanh nơi mé hỏa luân chịu sự nóng đốt của lửa hừng hoặc thân thành ngạ quỉ thiêu nướng. Có gặp được nước, nước nóng như lửa, cho nên trải trăm ngàn kiếp không được uống ăn.
Chín phần tình một phần tưởng sa rớt suốt thấu hỏa luân, đến giữa ranh giới phong luân, nhẹ thì rơi vào địa ngục hữu gián, nặng thì rơi vào địa ngục vô gián.
Thuần một thứ tình hắc ám thì sa vào địa ngục A tỳ, nếu có thêm tội hủy báng đại thừa, đả phá kiến giới của Phật, tạo tội ngũ nghịch thập ác thì sa vào địa ngục A tỳ từ kiếp này sang kiếp khác luân chuyển khắp thế giới mười phương.
A Nan ! Tùy ác nghiệp của chúng sanh đã tạo, mỗi người tự cầm lấy cái khổ địa ngục của riêng mình. Nhưng vì chúng sanh tạo ác nghiệp có giống nhau nên chịu quả khổ địa ngục cũng giống nhau, vì vậy mà địa ngục in tuồng như có chỗ định sẵn.
TRỰC CHỈ
Thể tánh của con người vốn tịnh minh, vì ai cũng có chân tâm thường trú. Chúng sanh hữu tình hay chúng sanh vô tình đều là hiện tượng tùy duyên trong bản thể chung cùng bất biến, cũng như những ngọn sóng lung linh màu sắc dưới ánh trăng vàng nghìn sai muôn khác đều phát khởi từ một thể nước phẳng lặng của một đại dương. Hội nhập được ý nghĩa hiện tượng không ngoài bản thể, ứng thân là diệu dụng của pháp thân. Thiền
Lão, một thiền sư Việt Nam thời Lý đã nói:
Trúc biếc mai vàng, trăng thanh mây bạc là diệu dụng của bản thể chân như biểu hiện qua hai câu thơ:
“Túy trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân”
Phật dạy: Sáu nẻo luân hồi không do một bàn tay, một đấng thiêng liêng nào sắp đặt cả. Cái động cơ quay lăn trong sáu nẻo dựa trên tiêu chuẩn: “Tình” và “Tưởng” nhiều ít của chúng sanh. Tình là sự biểu hiện của tâm ái nhiễm sâu nặng. Nặng về tình người ta dễ
mất hết lý trí, sống theo thói quen dục vọng. Đã đam mê dục vọng thì không còn đủ trí tuệ để nhận thức chân lý. Vì vậy, con người rất sợ chết và rất muốn sống. Trái lại, người giác ngộ chân lý, vấn đề sống và chết không tham mà cũng chẳng sợ, vì biết rõ rằng sự sống chết của kiếp người, sự diệt sanh của vạn pháp, nó đã thành qui luật đối với người trí, nó là chân lý khách quan đối với thiên nhiên vũ trụ. Sợ chết, chỉ đem vào cho đầu óc, cho tâm trí con người một thứ khổ sở ghê gớm mà lẽ ra con người không có và không nên có. Vì mê mờ chân lý, chúng sanh rất tham sống và sợ chết, vì vậy khi sắp chết: thoi thóp với một tí khí nóng chưa tàn, hai luồng tư tưởng đấu tranh mãnh liệt. Và vì quá sợ chết nên sự kinh hoàng, sự hốt hoảng, sự tiếc thương, sự hối hận, sự oán ghét, sự tuyệt vọng, sự luyến ái… đã huân tập tích lũy cho một đời hiển hiện ra đầy đủ, giống như cuộn phim Vidéo đã được quay từ trước, nay đến lúc đem ra chiếu lại…
Tất cả những cảnh tượng khổ đau ở địa ngục chỉ là những hậu quả phản ảnh của tâm độc ác, mê mờ u tối của kiếp sống mê tình, vọng tình và si tình mà tác giả cõi địa ngục chính là con người đang chịu khổ đau dày vò trong địa ngục ấy.
Tưởng nhiều thì dễ sanh trí tuệ. Có trí tuệ dễ nhận thức chân lý và sống hợp chân lý. Có phước đức, trí tuệ mới trông thấy được cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh trong mười phương, rồi tùy phước nghiệp mà cảm nhận mà thọ sanh vào cảnh giới đó.
Cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật trong mười phương phải do phước đức và trí tuệ mới được thấy. Trái lại, cảnh khổ đau địa ngục do tích lũy cực tham, cực sân, cực si và bất thiện nghiệp mà hiện ra. Không có phước đức trí tuệ sẽ không thấy được cõi Phật thanh tịnh. Không có những cực ác nghiệp sẽ không tìm đâu có cảnh địa ngục khổ đau. Nhiều người càng tạo nhân phước trí tuệ giống nhau nên cùng thấy cõi Phật thanh tịnh giống nhau; Vì vậy cõi Phật in tuồng như có sẵn. Nhiều chúng sanh tạo những bất thiện nghiệp giống nhau, nên cùng bị hình phạt đau khổ ở địa ngục giống nhau, vì vậy
mà địa ngục cũng in tuồng như có sẵn.
Cái từ “Na lạc ca” dịch ý có nghĩa là “địa ngục”. Địa ngục có nghĩa là: khả yểm, khả cụ, khả khí, bất lạc. Có thể tóm gọi là “cảnh giới của sự khổ đau cùng cực, không một chút xíu tạm an”. Người đệ tử Phật đừng bao giờ hiểu địa ngục như “một thành trì” “một cơ quan” có phương sở nhất định:
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Nhược nhơn dục liễu tri Tam thế nhất thiết Phật Ưng quán pháp giới tánh Nhất thiết duy tâm tạo…” Ai muốn hiểu rõ hết
Tất cả Phật ba đời
Nến quán tánh tướng các pháp giới
Tất cả duy tâm tạo.
Tất cả pháp giới đều do tâm tạo. Vì vậy, địa ngục chỉ là do tâm cực ác của ai đó tự tạo nó ra !
V – DO NHỮNG TẬP NHÂN BẤT THIỆN TỰ CHIÊU CẢM ÁC QUẢ KHỔ ĐAU
Thế nào là những tập nhân bất thiện ?
A Nan ! Tập nhân thứ nhất là thói quen dâm dục. Do sự giao hợp với nhau sanh ra sự cọ xác, cọ xác nhiều sanh ra khí nóng. Ví như người dùng hai tay chà xác thì cảm giác nóng sanh ra. Do lửa dục đốt mà có hiện tượng giường sắt nóng, cột đồng nung… cho nên Phật, Bồ tát xa lánh dâm dục như lánh xa hầm lửa.
Tập nhân thứ hai là thói quen tham cầu. Do tâm tham cầu so đo hơn thiệt hút vào, hút mãi thành ra hơi lạnh, lạnh cực thành băng, ví như người hút gió thì có cảm xúc lạnh, do sự tham cầu mà có âm thanh lạnh run phát ra tiếng: tra tra tra, ba ba ba… vậy nên Phật, Bồ
tát tránh tham cầu như tránh biển độc.
Tập nhân thứ ba là thói ngã mạn. Do ngã mạn đi đến ỷ thế cậy quyền mà có sự bôn ba sôi nổi. Sự sôi nổi nầy ngưng đọng thành nước. Ví như miệng nhai vị thì nước miếng tự chảy ra. Do vậy mà có sông tuyết, cát nóng, biển độc, nước đồng sôi… cho nên Phật và Bồ tát tránh ngã mạn như tránh vực thẳm.
Tập nhân thứ tư là thói quen giận dữ. Do giận dữ sanh ra chống đối, xung đột. Lửa giận nung đốt hóa thành kim khí, vì vậy mà có núi dao, rừng gươm, gậy sắt, cưa xẻ, búa chặt,
ví như người bị hàm oan thì sát khí bừng lên. Do vậy có hiện tượng cắt, chém, thiến, chặt,
đâm, dùi đập, đánh… cho nên Phật, Bồ tát tránh sự giận dữ như tránh chỗ chém giết.
Tập nhân thứ năm là thói quen giả dối. Do giả dối lường gạt nhau đưa đến lôi kéo, xô đẩy nhau cho nên có hiện tượng cây cọc, dây thừng, thòng lọng, ví như nước thấm ướt mộng thì cỏ cây sanh trưởng. Do vậy hiện ra gông cùm, xiềng xích, roi đánh, gậy đập, côn đần, mác chém, cho nên Phật, Bồ tát tránh sự giả dối như tránh cọp beo.
Tập nhân thứ sáu là thói quen lường gạt, lừa đảo. Lường gạt lừa đảo mãi gây thành điều gian dối. Vì vậy cảm ác quả nhơ nhớp như đất bụi, đại tiểu tiện và những sự chìm đắm, bay rơi, trôi lăn, cho nên Phật và Bồ tát nhận xét sự lừa đảo gian dối như dẫm lên rắn độc.
Tập nhân thứ bảy là thù oán hiềm khích nhau. Do ôm ấp lòng thù oán mà cảm thấy ác quả như quăng đá, ném gạch, hộp nhốt, cũi giam, bình đựng. Ví như người hiểm độc ôm ấp điều ác. Vì vậy thập phương Như Lai, Bồ tát nhận xét sự thù oán như là quỉ vi hại, như uống nhầm rượu độc.
Tập nhân thứ tám là ác hiểm, chấp thủ, tranh cãi với nhau về thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ, cho nên cảm thấy có quan lại chứng thực, nắm giữ giấy tờ, có các việc khám xét, tra khỏi, có đồng tử cầm sổ ghi chép việc thiện ác. Vậy nên, thập phương Như Lai nhận xét ác kiến như hầm sâu, Bồ tát xem như hố độc.
Tập nhân thứ chín là vu vạ, làm hại cho nhau. Do sự vu vạ hại người cảm ra ác quả như núi ép, đá kẹp, cối nghiền, cày sắt, ví như kẻ sàm tặc áp bức vu oan người lương thiện, đồng thời cảm thấy sự áp giải, đánh đập, ép huyết, lóc thịt. Vì vậy Phật và Bồ tát trong mười phương nhận xét sự vu vạ như cọp điên, như sấm sét.
Tập nhân thứ mười là kiện cáo. Kiện cáo cãi vã lẫn nhau phát sanh sự che đậy. Do vậy, cảm thấy có gương soi, đuốc rọi như giữa ban ngày không dấu bóng được, thấy có ác hữu trình bày tội lỗi, nghiệp kính hiện rõ những bất thiện nghiệp đó. Vậy nên thập phương Như Lai, Bồ tát nhận xét sự che đậy là giặc trong bóng tối, như đội núi cao lội trong biển lớn.
VI – SÁU THỨ KHỔ BÁO LÀ KẾT QUẢ CỦA BẤT THIỆN NGHIỆP PHÁT XUẤT TỪ
LỤC CĂN VÀ LỤC THỨC CỦA CON NGƯỜI
Phật bảo: A Nan ! Tất cả chúng sanh tạo ác nghiệp thì phải nhận lấy ác quả. Sự tạo nghiệp và trả quả như vậy là do sáu căn và sáu thức của chính mình, chớ không do nơi ai khác. Vì vậy, con người có thể tạo thiện nghiệp hay ác nghiệp mà chiêu cảm thiện báo hay ác báo đều tùy thuộc ở nơi mình.
Thế nào là sáu thứ khổ báo ?
Một là ác báo do tánh thấy của nhãn thức. Tánh thấy của người hằng ngày tiếp xúc và huân tập những cảnh bất thiện nghiệp, ác đức, nhiễm ô… lúc sắp chết họ sẽ thấy toàn lửa rực trời cháy khắp mười phương. Thần thức của người nầy bay lên theo khói rồi rơi xuống sa vào địa ngục. Ở nơi địa ngục thần thức chỉ còn thấy hai hiện tướng: sáng và tối. Thấy sáng thì thấy những cảnh kinh hoàng, bạo ác, mọi vật trở thành cảnh sợ hãi, chết chóc. Thần thức vô cùng khủng khiếp khổ sở đớn đau, không một chỗ nơi có thể nương tựa hoặc kêu gào cầu cứu. Khi thấy tối thì một màu đen lặng lẽ bao trùm, thần thức cực độ đau thương, tuyệt vọng.
Tánh thấy bất thiện tác hợp với những tánh nghe, ngửi, nếm, xúc, biết hiển hiện ra: vạc dầu sôi, nước đồng chảy, lửa rực, khói đen, hoàn sắt nóng, lò than, sao lửa rưới khắp đầy ngập cõi hư không, khiến cho thần thức người chết khổ sở đớn đau cùng cực.
Hai là ác báo do tánh nghe của nhĩ thức. Cái tánh nghe của con người trong cuộc sống hằng ngày tiếp xúc và huân tập nghe những điều ác đức, hiểm độc, lúc sắp chết nghe và thấy sóng cuộn ngập trời. Thần thức người chết bị cuốn trôi theo dòng nước mà vào địa ngục. Ở nơi địa ngục thần thức chỉ còn nghe hai hiện tướng: rõ và điếc. Nghe rõ thì nghe những tiếng rít khủng khiếp, những tiếng nghiến rợn người làm cho thần thức rối loạn, sợ hãi, khổ đau cùng cực. Lúc nghe điếc thì lặng lẽ im lìm như màn đêm nơi hoang vu, như cõi chết khiến cho thần thức cực kỳ sợ hãi đau thương.
Tánh nghe độc hại đau thương nầy tác động hỗn hợp vào các tánh thấy, ngửi, nếm, xúc, biết của năm thức kia tạo thành lời trách mắng tra hỏi, sấm sét, hơi độc, mưa mù và rưới các thứ sâu độc đầy khắp thân thể, tưới các thứ máu mủ hôi tanh, các thứ phẩn tiểu nhơ nhớp; còn hóa ra tia chớp kinh hồn, sấm rang long óc, mưa đá đập đè, thần thức người chết khổ sở không sao kể xiết !
Ba là ác báo do tánh ngửi của tỷ thức. Cái tánh ngửi của con người trong cuộc sống tiếp xúc và huân tập những thứ hương trần không lành mạnh, lúc sắp chết cảm nghe mùi độc khí khắp mọi nơi. Thần thức người chết tự thấy mình từ đất trổi lên, rồi lại rơi vào địa ngục. Ở nơi địa ngục, thần thức cảm nhận hai hiện tướng: thông và nghẹt. Khi ngửi thông thì hít phải toàn ám khí độc hại, ngột ngạt, thần thức vô cùng khổ đau rối loạn, lúc ngửi nghẹt thì lăn lộn vật vã, chết thì không được mà sống cũng không xong.
Cái tánh ngửi độc hại nầy tác động hỗn hợp vào với các tánh thấy, nghe, nếm, xúc, biết hóa thành lửa dữ, thiêu đốt, nước sôi nung nấu, sóng to nhận chìm, hóa thành núi, thành gạch to, đá lớn bay rớt đập nát thân thể làm cho người chết đau khổ tột cùng…
Bốn là ác báo do tánh nếm vị của thiệt thức. Cái tánh nếm vị của con người trong cuộc sống hàng ngày huân tập thói quen những thức ăn có tánh tàn hại giết chóc, ác đức bất nhân thì lúc sắp chết thần thức thấy khắp cõi không gian bao trùm bằng một thứ lưới sắt nung đỏ. Thần thức người chết từ dưới đất tung lên, bị vướng lưới lộn đầu rơi xuống sa vào địa ngục, thần thức còn nhận biết có hai hiện tướng: nuốt vô và mửa ra. Nuốt vô thì cảm nhận toàn băng giá lạnh tê tái, lạnh nứt nẻ cả thân thể; mửa ra thì rừng rực thứ lửa dữ bay ra và tự đốt cháy thân thể của chính mình.
Cái tánh nếm tội lỗi ác hại nầy tác động hỗn hợp với các tánh: thấy, nghe, ngửi, xúc và biết hóa thành sự xác nhận, sự tự thú. Lại hóa thành binh khí sắc bén, đâm chặt, lồng sắt nung đỏ nhốt, cung tên bắn vào thân làm cho thần thức người chết đau đớn cùng cực, cầu sống không được, muốn chết cũng không được.
Năm là ác báo do tánh cảm xúc của thân thức. Tánh cảm xúc của con người hằng ngày tiếp xúc và huân tập những ác hạnh, lúc sắp chết thần thức thấy núi lớn bốn mặt hợp lại ép vào mà không có lối thoát; lại thấy cái thành sắt lớn đầy chó lửa, rắn lửa, cọp, beo, lang, sói, sư tử lửa như chực muốn ăn nuốt; lại thấy ngục tối đầu trâu, mặt ngựa, tay cầm
gươm giáo lùa đẩy thần thức người chết tống vào địa ngục – Ở nơi địa ngục, thần thức chỉ còn thấy hai hiện tướng: Hợp và ly. Hợp thì thấy núi ép thân thể xương thịt nát tan. Ly thì thấy giáo gươm đâm chỉa vào mình, thi thể ruột gan banh nát…
Tánh xúc ác hại tác động hỗn hợp với các tánh: Thấy, nghe, ngửi, nếm và biết hóa thành người săn đuổi, người bắn giết, người xử tội; hóa thành sảnh đường, tòa án; hóa thành
đốt, nung, đập, nhốt, trói buộc, chặt ném; hóa thành té ngã, bay lên, hóa thành nấu luộc…
làm cho thần thức đau đớn không sao kể xiết…
Sáu là ác báo do sự suy nghĩ của ý thức. Ý thức của con người trong cuộc sống huân tập những tư tưởng bất thiện, lúc sắp chết thấy cuồng phong tàn bạo thổi cõi nước tan tành, thần thức người chết bị thổi bay trên không, xoáy lốc theo gió, lại rơi xuống sa vào địa ngục. Bấy giờ thần thức chỉ còn cảm nhận hai hiện tướng: Mê sảng và tỉnh biết. Lúc mê sảng thì kinh hoàng, sợ hãi, chạy cuồng, chạy ngong không ngừng nghỉ. Khi tỉnh biết lại bị đốt cháy liên tục đau đớn cùng cực, sống không an, chết không được.
Ý thức bất thiện nầy tác động hỗn hợp với các tánh: Thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc hóa
thành phương sở quan thự, đài gương soi, cáo trạng, người chứng, sương giá lạnh, gộp đá to nặng, ngục lửa, tiếng kêu la, gào khóc, thần thức phải chịu muôn lần sống, muôn lần chết trong một ngày khổ đau vô cùng vô cực.
A Nan ! Như Lai đã chỉ dạy cho ông mười tập nhân và sáu quả báo ở địa ngục. Nhân quả ấy là do mê vọng của chúng sanh tạo ra. Dựa trên sáu căn ba nghiệp của con người trong sự tạo ác nghiệp mà thần thức có thể đọa vào 8 ngục vô gián hoặc 18 hoặc 36 hoặc 108 ngục khác nhau. Chúng sanh tạo nghiệp thì riêng, nhưng tội trạng, tội danh trùng hợp giống nhau cho nên chịu quả đồng phận như nhau, cảnh giới đó do vọng tưởng sanh ra nó chớ không phải bản lai tự có.
TRỰC CHỈ
Dâm dục, tham lam, giận dữ, ngã mạn, giả dối, lường gạt, oán thù, ác kiến, vu cáo, kiện thưa là những nguyên nhân gây ra vô vàn ác khác, Phật gọi đó là mười nhân ác, nó đã thành thói quen trong cuộc sống của con người không có ý thức phản tỉnh hồi quang, trau dồi đạo đức.
Nhân xấu ác thì không thể có quả an vui. Những ác nhân ấy không phải trời xuôi đất khiến mà do chính con người; do thân, miệng và ý của con người; khi con người đánh mất lý trí sáng suốt; con người không còn làm chủ được thân, miệng, ý của mình.
Những ác quả khổ đau cùng cực trong các địa ngục dù khác nhau, nhưng tất cả đều chỉ là những hình ảnh phản chiếu trung thực của nhất tâm của tam nghiệp của căn, trần, thức của con người. Đó là giờ phút “tòa án lương tâm” của con người hành xử cái chức năng: “chí công vô tư” tuyệt đối, tuyệt đối của “thể tánh tịnh minh” vốn có của chính con người.
Ngày, giờ, năm, tháng ở địa ngục không thể tính số theo khái niệm nhận thức ở nhân gian. Ai có nằm mộng và có tư duy về “hoàng lương mộng” có thể hiểu thời gian ở địa ngục tương đối dễ dàng hơn. Giấc mộng khoảng một tiếng đồng hồ hơn kém, vậy mà đối với lư sinh là cả 80 năm thăng trầm vinh nhục, 80 năm ân oán giang hồ, bừng tỉnh dậy thì ra mình vẫn là một thư sinh thi trượt, đang mơ màng bên quán trọ với tâm trạng âu sầu, thất vọng trên đường trở lại cố hương.
Cái khổ lâu dài ở địa ngục của những “linh hồn” đã tạo nhiều ác nghiệp, một giờ hấp hối trong phút sắp lâm chung biết đâu đó chẳng là 80 năm đau khổ nghiệp cảm tội hành do hậu quả trong một đời tích lũy !
VII – NÓI VỀ CÁC DƯ BÁO SAU KHI RA KHỎI ĐỊA NGỤC
Nầy A Nan ! Những người trái phạm luật nghi, phá Bồ tát giới, bất tín tam bảo, chống báng Bồ đề, Niết bàn Phật thì vĩnh viễn họ sống trong địa ngục; còn những người phạm phải những nghiệp phức tạp khác, sau khi chịu khổ quả ở địa ngục mãn rồi, dư báo còn lại phần nhiều luân hồi đọa vào con đường quỷ. Vì vậy, mà quỷ có nhiều loại khác nhau do tạo nhân bất thiện chẳng đồng nhau.
Nặng về tham vật chất, dư báo tham hợp với vật chất thành Quái quỷ. Nặng về tham sắc dư báo tham hợp với gió thành Bạt quỷ.
Nặng về dối trá dư báo tham hợp với súc vật thành Mỵ quỷ.
Nặng về sân hận dư báo tham hợp các loài sâu thành Cổ độc quỷ.
Nặng về oán thù dư báo tham hợp với vận suy của kẻ thù thành Lệ quỷ. Nặng về ngã mạn dư báo tham hợp với khí thành Ngạ quỷ.
Nặng về lừa đảo, lường gạt dư báo tham hợp với u ẩn thành Áp quỷ. Nặng về ác kiến dư báo tham hợp với tinh hoa thành Vọng lượng quỷ. Nặng về vu oan giá họa dư báo tham hợp với linh hiển thành Dịch sử quỷ.
Nặng về bè phái, ô lọng dư báo tham hợp với con người thành Truyền thống quỷ.
A Nan ! Những thần thức đó do nặng tình và thuần tình cho nên phải đọa lạc vào địa ngục và dư báo còn lại phải sanh vào đường quỷ. Như vậy đều do vọng tưởng của tự tâm chuốc lấy, chớ không do ai phạt, ai hành. Nếu có nhân duyên tột tỏ ngộ Bồ đề, Niết bàn tự tánh thì những thứ ác quả khổ đau đó vốn chẳng có thật.
Lại nữa, A Nan !
Quái quỷ theo vật chất, vật chất tiêu, báo hết sinh nơi thế gian phần nhiều thành loài chim kiêu.
Bạt quỷ theo gió, gió tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành các loài Cửu trưng kỳ dị.
Mỵ quỷ theo súc, súc tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài chồn, cáo. Cổ quỷ theo sâu, sâu tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài có độc.
Lệ quỷ theo vận suy, vận suy tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành giun.
Ngạ quỷ theo gió, gió tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài cung cấp thịt
ăn.
Áp quỷ theo u ẩn, u ẩn tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài cung cấp đồ
mặc.
Vọng lượng quỷ theo tinh hoa, tinh hoa tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loài chim mùa.
Dịch sử quỷ theo loại linh hiển, linh hiển tiêu, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành loại hưu trưng kỳ dị.
Truyền thống quỷ theo người, người chết, báo hết sanh nơi thế gian phần nhiều thành các loại quấn quít bên người.
Nầy A Nan ! Những loài như thế đều do quả báo của tự tâm hư vọng của họ. Nếu có duyên lành tỏ ngộ Bồ đề, Niết bàn tự tánh thì đó chỉ là hình ảnh huyễn mộng vốn chẳng có gì !
Nầy A Nan ! Những ác quả của bọn Bảo Liên Hương, Lưu Ly, Thiện Tinh Tỳ kheo đều do tự họ gây ra nghiệp nhân tội lỗi. Tội lỗi ấy không phải trên trời cao xuống, không phải dưới đất phát ra, không do người khác làm mà chính do vọng tưởng của họ gây ra rồi tự mình phải chịu quả báo. Đối với tâm tánh Bồ đề, thì đó chỉ là sự kết động vọng tưởng hư huyễn nào có đáng kể gì !
Nầy A Nan ! Vấn đề vay trả nợ nần thật là phức tạp: có lúc làm súc sanh để trả nợ cho người; người ít phúc đức hưởng quá phần nợ, phải làm súc sanh trả lại số dư cho người chủ nợ ở kiếp sau. Do vậy, súc có thể thành người, người có thể thành súc để đền đáp nợ nần, vay trả, trả vay. Trừ khi tu tập pháp xa ma tha, tam ma bát đề, thiền na hoặc quay về nương học với Tam bảo thì sự luân hồi vay trả không có lúc ngừng quay.
Nầy A Nan ! Loại chim kiêu trả nợ đủ rồi được sanh trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng ngoan cố.
Giống Cửu trưng trả nợ đủ rồi được sanh trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng quái dị. Loài chồn, cáo trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo nó tham hợp với hạng đần độn,
ngu si.
Những loài có độc trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người nham hiểm.
Loài giun trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với những hạng hèn nhát. Loài cung cấp thịt ăn, trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng
người nhu nhược.
Loài cung cấp đồ mặc, trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với với hạng người lao lực.
Loài chim mùa, trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người có văn hóa.
Loài hưu trưng, trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người thông minh.
Loài quấn quít theo người, khi trả nợ hết rồi được sanh trong nhơn đạo, nó tham hợp với hạng người hiển đạt.
A Nan ! Những hạng người đó đều do nghiệp bất thiện của họ tạo ra; sanh nhau, giết
nhau, ăn nuốt lẫn nhau rồi vay trả, trả vay mà xoay vần như vậy. Nếu không gặp Như Lai, không nghe chánh pháp của Như Lai thì ở trong trần lao máy móc xoay vần không có ngày chấm dứt. Như Lai gọi đó là những chúng sanh đáng thương xót.
VIII – MƯỜI THỨ TIÊN DO TU DỊ NHÂN
KẾT THÀNH DỊ QUẢ
Này A Nan ! Có những chúng sanh từ loài người, không nương theo cái nhân chánh giác tu tập lại đam mê chuyên luyện những dị nhân; họ hy vọng củng cố hình hài trường sanh bất lão, vào trong rừng núi vắng vẻ những chỗ khó có người đến được họ chuyên luyện dị thuật của mình và kết quả được thành Tiên gồm có mười thứ khác nhau:
Hạng chuyên luyện đồ ăn, tìm các chất bổ dưỡng để ăn, luyện mãi khi “đạo ăn” thành tựu thì gọi là Địa hành tiên.
Hạng chuyên luyện dược tính, tìm thuốc trong các thứ cỏ cây luyện hoài, khi “đạo thuốc” thành tựu thì gọi là Phi hành tiên.
Hạng chuyên luyện đá, vàng, đơn sa, cửu chuyển luyện mãi, khi “đạo hóa chất” thành tựu thì gọi là Du hành tiên.
Hạng chuyên luyện động tác, luyện hoài khi “đạo khí tinh” thành tựu thì gọi là Không hành tiên.
Hạng chuyên luyện nước bọt, luyện mãi khi “đạo thanh nhuận” thành tựu thì gọi là Thiên hành tiên.
Hạng chuyên luyện hấp thụ tinh hoa, luyện hoài khi “đạo hấp thụ” thành tựu thì gọi là
Thông hành tiên.
Hạng chuyên luyện phù chú, luyện mãi khi “đạo thuật pháp” thành tựu thì gọi là Đạo hành tiên.
Hạng chuyên luyện về nhớ nghĩ, luyện hoài khi “đạo nhớ nghĩ” thành tựu thì gọi là Chiếu hành tiên.
Hạng chuyên luyện về thủy hỏa giao cấu, luyện mãi khi “đạo cảm ứng” được thành tựu thì gọi là Tinh hành tiên.
Hạng chuyên luyện về biến hóa, luyện hoài khi “đạo biến hóa” thành tựu thì gọi là Tuyệt hành tiên.
A Nan ! Các hạng Tiên đó ở ngay trong loài người mà tu luyện. Tuy họ không tu đúng
cái nhân chánh giác, nhưng vẫn có được kết quả. Họ có thể sống thọ ngàn, muôn tuổi. Họ ẩn thâm sơn, cùng đảo cách biệt người đời, họ có thú an vui riêng họ. Dù vậy, họ vẫn chưa lóng gạn sạch hết cái nhân luân hồi cho nên khi hết phước vẫn trở lại luân hồi.
IX – TRỜI DỤC GIỚI
Nầy A Nan ! Những người thế gian, chưa cầu chánh giác, chưa bỏ được ái ân vợ, nhưng tâm không buông lung trong việc tà dâm. Có chút ít định tâm, sanh ra sáng suốt, sau khi chết sanh vào một cõi ở gần với mặt trời, mặt trăng, gọi đó là Trời Tứ thiên vương.
Hạng người đối với vợ, dâm ái ít ỏi nhưng trong lúc tỉnh tâm chưa hưởng trọn vẹn sự khinh an, sau khi chết vượt ánh sáng trời trăng, ở trên cõi nhân gian, gọi đó là Trời Đao Lợi (2).
Có người gặp cảnh dục lạc tạm theo, nhưng trong lúc thôi không nghĩ tới, ở trong nhân gian, động ít tỉnh nhiều, sau khi chết sáng rỡ và ở yên một cõi trong hư không. Mặt trời, mặt trăng không soi đến cõi nầy. Người cõi trời nầy tự có ánh sáng, gọi đó là Trời Tu
Diệm ma (3).
Hạng người lúc nào cũng tỉnh, nhưng khi có những điều cảm xúc đến chưa chống lại được, sau khi chết họ sanh lên cõi tinh vi, không tiếp với cảnh nhân thiên cõi dưới. Tam tai, hoại kiếp không hủy hoại đến cõi nầy. Đây gọi là Trời Đâu suất đà (4).
Hạng người không có tâm dâm dục chỉ vì đáp ứng với người khác mà làm. Trong lúc
hành lạc, cảm thấy vô vị như ăn sáp, người nầy sau khi chết vượt lên và sanh vào cõi biến hóa, gọi đó là Trời lạc biến hóa (5).
Hạng người không có tâm thế gian chỉ hòa đồng với thế gian làm việc ngũ dục, trong lúc làm việc vẫn là siêu thoát. Sau khi chết họ vượt trên cảnh biến hóa và không biến hóa, gọi đó là Trời Tha hóa tự tại (6).
A Nan ! Sáu cõi trời đó hình thức tuy ít động nhưng tâm không còn vướng mắc nhiều vì vậy gọi đó là cõi Trời Dục (7).








CHƯƠNG THỨ CHÍN
I – TRỜI SẮC GIỚI
A Nan ! Người nào giữ được thân không làm việc dâm dục và không nhớ nghĩ, lòng ái nhiễm không sanh thì đã vượt ra cõi Dục làm bạn bè với hàng Phạm hạnh, gọi đó là trời Phạm chúng.
Người đã trừ được tập quán ngũ dục, tâm ly dục hiện tiền vui vẻ thuận theo các luật nghi, có thể thực hành Phạm đức gọi đó là trời Phạm phụ.
Thân tâm thanh tịnh, uy nghi không thiếu, giới cấm trong sạch, có trí sáng suốt, thống lãnh Phạm chúng, làm đại Phạm vương, gọi đó là trời Đại phạm.
Nầy A Nan ! Ba hạng người trời đó khổ não không bức bách được; tuy không phải chơn chánh tu pháp tam ma đề của đạo Phật, nhưng tâm có thanh tịnh, những đam mê sai phạm của Dục giới không lay động được họ, gọi đó là hàng trời Sơ thiền.
A Nan ! Các hàng Phạm thiên khi thống lãnh Phạm chúng lại tu tập Phạm hạnh được viên mãn làm cho tâm yên lặng không động; do sự yên lặng thân tâm được sáng suốt, gọi đó là trời Thiểu quang.
Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng vô lượng cõi làm cho các thế giới đó ánh hiện trong suốt như ngọc lưu ly. Hạng người như thế gọi là trời Vô lượng quang.
Duy trì hào quang tồn tại vĩnh viễn, biến thành phương tiện giáo hóa cho chư Thiên, và
ứng dụng vô cùng. Hạng người như thế gọi là trời Quang âm.
A Nan ! Ba hạng người trời, các thứ lo buồn không bức bách được. Tuy chưa phải chơn chánh tu pháp tam ma đề của đạo Phật, nhưng thân tâm có thanh tịnh, những sai lầm thô động đã dẹp xuống được. Hạng người như thế gọi là hàng trời Nhị thiền.
Nầy A Nan ! Trời Nhị thiền phát huy vận dụng hào quang trong việc giáo hóa làm tỏ rõ lẽ nhiệm mầu, tăng trưởng hạnh tinh tiến, thể nhập với cái vui yên tĩnh, gọi đó là trời Thiểu tịnh.
Cảnh thanh tịnh hiện tiền bao la không bờ mé, thân tâm khinh an vui trong cái vui yên tĩnh, gọi đó là trời Vô lượng tịnh.
Thế giới và thân tâm hoàn toàn thanh tịnh; cảnh giới thù thắng hiện tiền vui trong cái vui hoàn toàn vắng lặng, gọi đó là trời Biến tịnh.
A Nan ! Ba hạng người trời đó đầy đủ công hạnh tùy thuận, thân tâm yên tĩnh được cái vui vô lượng; tuy không phải chơn chánh tu pháp tam ma đề của đạo Phật, nhưng thân tâm yên ổn sống trong hoan hỉ, gọi đó là hàng trời Tam thiền.
Lại nữa A Nan ! Từ trời tam thiền đã hóa giải được những bức bách của thân tâm, hạn chế được nhiều nguyên nhân khổ. Họ thường quán xét cái vui vẫn là vô thường tạm bợ. Vì vậy họ phóng xả cả hai tâm vui khổ thô trọng, phúc đức thanh tịnh được sanh ra, gọi đó là trời Phúc sanh.
Hạng người tâm phóng xả khá tròn đầy, sự hiểu biết cao xa, thanh tịnh, không gì trở ngại. Họ có thể tùy thuận chơn lý nhiệm mầu. Hạng người đó gọi là trời Phúc ái.
A Nan ! Ông hãy chín chắn mà nhớ ghi. Sau khi thành tựu quả Phúc ở cõi trời Phúc ái, từ đó có hai con đường tẻ.
Một là dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng tiếp tục tu chứng, an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt thì gọi đó là trời Quảng quả.
Hai là dùng cái tâm yếm thế chán cả khổ vui, nghiền ngẫm, ôm ấp cái tâm phóng xả không ngừng, thân tâm diệt tận dứt bặt ý nghĩ chận đứng tư duy trải năm trăm kiếp thọ mạng. Hạng người nầy lấy sanh diệt làm nhơn tu cho nên không thể phát minh chơn tánh bất sanh bất diệt. Vì vậy, nửa kiếp đầu họ quán diệt, nửa kiếp sau không còn sức khống chế, họ trở lại sinh hoạt với ý thức tư duy, người như thế gọi là người vô tưởng.
A Nan ! Bốn hạng người trời đó, những thứ khổ vui của thế gian không lay động được,
dù đó chưa phải là chỗ bất động chơn thật của đạo Phật, nhưng họ vẫn có được cái sở đắc
ở nội tâm thanh tịnh, hạng người như thế gọi là trời Tứ thiền.
A Nan ! Ngoài ra còn có năm hạng Trời khác gọi là năm bậc Bất hoàn (ngũ bất hoàn
thiên cũng gọi là ngũ Tịnh cư thiên). Năm bậc nầy đã dứt hết tập khí chín phẩm tư hoặc ở cõi Dục rồi, khổ vui thô trọng không còn, cảnh giới biệt lập, an trú nơi tâm phóng xả, gọi đó là trời Vô phiền.
Phóng xả đến độ tự tại không còn ý niệm năng xả, sở xả, người như vậy gọi đó là trời Vô nhiệt.
Thấy bằng cái thấy thanh tịnh, nhận thấy thế giới mười phương đứng lặng, không còn những cấu nhiễm trầm trọng trước trần cảnh, hạng nầy gọi là trời Thiện kiến.
Sự thấy biết thanh tịnh hiển hiện hiện tiền và thường sử dụng cái tri kiến đó không còn ngăn ngại, người như thế gọi là trời Thiện hiện.
Quán sát cùng tận các cực vi, thấu triệt rốt ráo tánh của sắc pháp; tri kiến rộng sâu không bờ mé, hạng người như thế gọi là trời Sắc cứu cánh.
A Nan ! Những bậc trời Bất hoàn đó chỉ riêng có bốn vị Thiên vương của cõi Tứ thiền có kính nghe nhưng không thấy biết. Cũng như hiện thời các Thánh đạo tràng ở nơi rừng sâu, đồng rộng trên thế gian là những nơi trú trì của các vị A La Hán, nhưng con người thô thiển thế gian không thể nào thấy được.
A Nan ! Mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không bám víu trần cảnh; song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đấy trở về gọi là cõi trời Sắc.
II – TRỜI VÔ SẮC GIỚI
Lại nữa, A Nan ! Ở đỉnh cao của cõi Sắc có hai con đường tẻ:
Một là hạng người dựa trên tâm phóng xả mà phát minh được trí tuệ. Trí tuệ sáng suốt nhận thức được chân lý, kiến, tư hoặc bị triệt tiêu thì được xuất ly trần thế thành A La Hớn lần đến Bồ tát thừa. Hạng người như thế gọi là Hồi tâm Đại A La Hớn.
Hai là dựa trên tâm phóng xả, thành tựu được “cái đạo phóng xả” đâm ra nhàm chán cái thân, cho rằng thân là một thứ ngăn ngại và dụng công diệt tưởng triệt tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không vô biên; hạng người như thế là trời không xứ.
Các thứ chất ngại không còn bị vướng mắc, nhưng chưa diệt được cái vô ngại. Họ còn bảo lưu A lại da thức và một vi tế thức mạt ra. Hạng người như thế gọi đó là trời Thức xứ.
Ý niệm sắc không đã diệt, cái niệm diệt cũng xả ly; chỉ còn ý niệm vắng lặng không còn gì nữa. Hạng người như thế gọi đó là trời Vô sở hữu.
Thực tánh vốn bất động, lại dùng ý niệm diệt mà diệt đến cùng. Cái không thể diệt hết, phát minh nhận cho là hết. Vì vậy hình như hết mà không phải hết. Giống như còn mà chẳng phải còn. Hạng người như thế gọi đó là trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Hạng Phi tưởng phi phi tưởng xứ nầy, ý muốn xét thấu cái không, nhưng không cùng tột được lý không. Nếu dựa theo pháp tư duy của trời Bất hoàn để nhận thức lý không. Hạng người như thế gọi là Bất hồi tâm độn A La Hớn.
Hạng khác, dựa trên tâm niệm yếm thế phát huy cái vô tưởng của trời Vô tưởng và bọn ngoại đạo để nghiền ngẫm, nhận xét lý không, đè nén tri thức hướng đến chỗ ngoan không mà không biết trở về. Đó là hạng si mê lầm lạc, không nghe học chánh pháp, rốt cuộc sẽ sa vào trong luân hồi lục đạo, khổ não ưu bi không có ngày chấm dứt.
A Nan ! Các cõi trời đó, vốn là những người phàm phu có tạo thiện nhơn cho nên họ hưởng sự báo đáp bằng thiện quả như vậy. Đến khi sự báo đáp thiện quả ấy hết rồi thì có thể trở lại luân hồi theo dòng nhân quả mới.
A Nan ! Các cõi trời tứ không nhân tâm vắng lặng định tĩnh hiện tiền, không còn dính mắc với sắc pháp, gọi đó là trời Vô sắc giới.
Tất cả người trời, không hiểu được cái “diệu giác minh tâm”. Vì chứa nhóm cái vọng mà vọng sanh ra ba cõi, mà trong đó vọng có bảy loại chúng sanh, chủng tử loài nào thì vọng kết hình hài tùy loại thọ báo.
III – BỐN LOÀI A TU LA
A Nan ! Trong ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc đó, còn có bốn loại A Tu La:
Có thể từ loại quỷ sanh. Loại A Tu La nầy sanh ra từ loài quỷ, do có tâm bảo hộ chánh pháp của Phật mà có được thần thông, du hành tự tại trong hư không. Loài nầy sanh từ trứng, thuộc A Tu La trong loài quỷ.
Có thể từ loài trời sanh, hạng người trời kém đức phải sa đọa vào cảnh giới ở gần mặt trời, mặt trăng. Loại A Tu La nầy sanh từ thai, thuộc loại A Tu La trong loài người.
Có thể từ biến hóa sanh, loại A Tu La nầy có sức mạnh đến chỗ không còn biết sợ ai. Nó có thể tranh quyền với Phạm thiên, Đế thích và Tứ thiên vương kể cả chiến đấu nhằm đạt mục đích cho mình. Loại A Tu La nầy do biến hóa mà sanh, thuộc A Tu La trong loài Trời.
Có thể từ thấp khí sanh, loại A Tu La nầy thấp kém, sanh trong lòng biển lớn, lặn trong vực sâu, ban ngày có thể dạo đi trên hư không đêm thì ngủ dưới nước. Giống A Tu La nầy do thấp khí sanh, thuộc A Tu La trong loài súc sanh.
IV – TU HÀNH CHỈ LÀ PHƯƠNG TIỆN
ĐỂ DIỆT VỌNG QUI CHƠN
Nầy A Nan ! Xét cho cùng, bảy loại: Địa ngục, quỷ, súc sinh, người, tiên, A Tu La, Trời đều là những hiện tướng hữu vi chìm đắm trong tối tăm vô an bất ổn. Tất cả chỉ là hư vọng. Hư vọng thụ sanh, hư vọng theo nghiệp, hư vọng thọ khổ. Ở trong tâm tánh mầu nhiệm, thanh tịnh, sáng suốt, tròn đầy của con người, tìm mối manh gốc rễ của những khổ đau hư vọng đó, thì không sao có được. Nó chuyển sanh, huyễn diệt như hoa đốm trong hư không. Nó chẳng dính dáng gì với thể tánh tịnh minh vốn có của con người !
A Nan ! Những chúng sanh đó do không nhận được tâm tánh bản lai của mình thanh tịnh. Chỉ vì “vọng” mà tạo ra bất thiện nghiệp: Sát, đạo, dâm. Hạng tốt hơn thì ngược lại: Bất sát, bất đạo, bất dâm. Có sát, đạo, dâm thì là quỉ, không sát, đạo, dâm gọi là trời. Có, không thay nhau “vọng” hiện tướng luân hồi tương tục.
Nếu khéo tu tập xa ma tha, tam ma bát đề và thiền na thì tâm tánh nhiệm mầu, vắng lặng tròn sáng tự bản dĩ lai; lúc đó tìm cái bất sát, bất đạo, bất dâm hãy còn không có, thì sát, đạo, dâm không có môi trường sanh khởi.
A Nan ! Nếu không đoạn trừ được ba nghiệp không lành của thân, khẩu, ý thì mỗi chúng sanh đều có phần tội riêng mình. Từ những cái riêng tương tợ hợp thành cái đồng phận chung tương tợ cho nên cảnh địa ngục khổ đau không phải là không có chỗ nhất định. Tất cả đều là do vọng kiến của tự mình sanh ra, mà vọng thì không chơn, không thể truy nguyên nguồn gốc được.
Người học đạo, muốn được Bồ đề, Niết bàn điều cốt yếu là phải diệt trừ lậu hoặc, kiến tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc chưa hết, dù có được thần thông thì đó cũng là những công dụng hữu vi của thế gian. Tập khí mê lầm chưa hết thì rốt cuộc cũng lạc vào đường ma. Dù có ý trừ vọng nhưng càng chồng chất vọng nhiều thêm. Như Lai gọi đó là hạng người đáng thương xót !
TRỰC CHỈ
Thấy có tam giới và luân hồi trong thất thú chỉ vì một chữ vọng mà ra. Tự tánh Bồ đề của con người vốn không có vọng.
Cảnh giới địa ngục cũng có thể nói là có. Có nơi chốn, có hình phạt có đau khổ rõ ràng; nhưng rồi cũng có thể nói là không có. Địa ngục có là nói với những người tạo những vọng nghiệp qua thân, miệng, ý của mình. Cảnh giới trời thì ít có người khái niệm và hình dung được chánh xác ở đâu. Theo khái niệm phổ biến của đa số người hiểu một cách giản dị thì trời cách cõi đất ta ở vừa cao và vừa xa, xa lắm. Đối với người có nhiều hiểu biết thì người ta có thể chấp nhận có thể “xa”. Nhưng “cao” thì khuyên nên xét lại.
Cảnh giới người trời có thể ở xa cảnh giới của ta. Xa 100 năm, 1.000 năm hoặc hiện thời người ta cũng có thể nói đến 6.000.000.000 năm ánh sáng… Dãy ngân hà được các nhà Thiên văn học phát hiện mới nhất của thời đại, cách cảnh giới loài người trên quả địa
cầu là 6 tỉ năm ánh sáng. So với dãy ngân hà trên dưới 3 tỉ ngôi sao, đã được phát hiện từ trước, vừa dài, vừa rộng lớn gấp 6 lần. Đó là tri kiến là chuyện của các nhà khoa học, thiên văn học chớ chưa phải của nhà Phật học. Nhà Phật học không dùng đơn vị tốc độ ánh sáng ước độ rộng xa mà dùng cái từ “Hằng hà sa số bất khả thuyết, bất khả thuyết vô lượng vô biên A tăng kỳ thế giới. Thế giới ở trong cái không gian vô tận, thời gian vô cùng, nhà Phật học nói vậy đó”.
Thế giới nhiều như vậy, chẳng lẽ chỉ dành riêng cho 28 cảnh giới của người, trời ở thôi sao ? Phí phạm ! Tất nhiên các loài người, trời có quyền sanh sống, hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật có quyền sanh sống, có quyền hoạt động theo nghiệp vụ của mình. Ngoài ra các loại chúng sanh khác cũng tùy nghiệp, tùy nguyện của mình đều có quyền khai thác đất đai lập nghiệp để sanh sống. Vì vậy, cho nên nói trời ở xa, hàng Thanh văn, Duyên giác ở xa, Bồ tát, Phật vẫn có thể ở xa quả đất của con người thì không phải là chuyện không có lý. Chẳng lẽ những “thiên thể” những “hành tinh” “định tinh” nhiều “bất khả thuyết” như vậy, mà bỏ hoang hết cả hay sao ? Chẳng lẽ chỉ có quả địa cầu bé tí nầy sanh sống được thôi sao ?
Cho nên đối với nhà Phật học, với cái hiểu biết cho rằng: Trời ở xa các bậc A La Hớn, Bồ tát, Phật ở xa là sự hiểu biết đúng, sự hiểu biết phổ biến của những người “đệ tử bình dân” chưa nếm được tí cái hương vị giải thoát giác ngộ của đạo Phật.
Cái khó hiểu của đạo Phật và cũng là cái kết quả lớn lao của người đệ tử Phật chơn chính, là phải xác định bằng trí tuệ bằng sự thực chứng của bản thân, rằng: chính ta là con người và cũng là trời, vừa là Thanh văn, La Hớn, vừa là Duyên giác, vừa là Bồ tát và có thể vừa là Phật. Rồi cũng chính ta vừa là người, vừa là súc sanh, vừa là ngạ quỷ, vừa
ở địa ngục nữa. Tất cả là ta, tất cả tùy thuộc nơi ta và tất cả của chính ta.
Hiểu như vậy là cái hiểu của nhà Phật học; Nhà Phật học là nhà Phật học có thực chứng, nhà Phật học có tư duy sâu, trí tuệ đạt đến ba la mật rồi vậy.
V – TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG TU PHẢI CẢNH GIÁC CÁC HIỆN TƯỢNG KHUẤY NHIỄU CỦA MA
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo đại chúng và ông A Nan rằng: các ông là Thanh văn, Duyên giác đã hồi tâm hướng thượng về Vô thượng Diệu giác Bồ đề. Như lai đã chỉ dạy các ông pháp tu chân chánh. Nhưng các ông còn chưa biết hết những ma sự phức tạp trong lúc tu chỉ quán và thiền na. Nếu cảnh ma hiện ra mà không biết thì chẳng những tu tập không đúng mà còn rơi vào tà kiến. Khi đã rơi vào tà kiến thì sẽ bị ngũ ấm ma, thiên ma hoặc quỉ thần, ly mị vọng lượng khuấy nhiễu mà không biết lầm cho là hiện tượng chứng đắc
của mình. Thế thì chẳng khác nhận giặc làm con, tai hại không lường trước được. Bọn Vô văn tỳ khưu đắc định Tứ thiền, nói là chứng Thánh, đến khi phước báo Chư Thiên hết,
suy tướng hiện ra rốt cuộc vẫn thọ luân hồi, vẫn sa vào địa ngục.
Giờ đây các ông hãy chín chắn lóng nghe và khéo suy nghĩ Như Lai sẽ vì các ông mà nói. Nầy A Nan ! Mười hai loại chúng sanh trong thế gian hữu lậu, tâm thể vốn tròn đầy giác
ngộ sáng suốt, nhiệm mầu cùng với chư Phật trong mười phương không hai không khác. Chỉ vì vọng tưởng mà các ông mê chân lý thành có sự lỗi lầm, si ái phát sanh.
Trong lúc các ông tu thiền định thể nhập tam ma đề tâm được thông suốt hợp với các vị La Hớn, Bồ tát và chư Phật trong mười phương làm cho tất cả ma vương, quỷ thần, thiên ma đều thấy chỗ ở của mình vô cớ chuyển rung như sắp đổ vỡ. Vì vậy các thiên ma, quỷ thần, ly mị vọng lượng, yêu quái, ác tinh đến mà khuấy nhiễu.
Các bọn ma tuy có giận dữ, nhưng chúng chỉ là một bọn trần lao, tâm các ông trong diệu giác tịnh minh, thì sự khuấy phá đó như gió thổi ánh sáng, như dao chém nước, như đánh hư không, không hại được người tu chánh pháp. Khi nào chúng khuấy phá được là do người chủ ngũ ấm, nội tâm sai lầm thì khách ma bên ngoài mới nhiễu hại được. Ví như binh phù tướng ấn bị truất bãi tước lột hết rồi thì hiệu lệnh của vị Tể tướng chẳng ai nể sợ
nữa.
VI – NHỮNG HIỆN TƯỚNG THUỘC PHẠM VI SẮC ẤM
Phật bảo ! Nầy A Nan ! Trong lúc người tu hành tĩnh tọa chỉ tức vọng niệm, vọng niệm lắng thì tâm ly niệm được sáng ra; lúc bấy giờ động tĩnh không tương cang, sự nhớ quên dường như một. Đó là lúc sắp đi sâu vào chánh quán. Trạng thái yên tĩnh của tâm làm
cho hành giả giống như người mắt tỏ trong chỗ tối tăm. Trí hiểu biết được tịch tĩnh nhưng tâm chưa phát ra sáng suốt. Đó là hiện tướng thuộc phạm vi sắc ấm.
Chừng nào trước mắt sáng tỏ, mười phương rỗng rang không còn tối tăm nữa; đó là kết quả bước đầu thiền giả loại hết sắc ấm và vượt qua kiếp trược.
Nầy A Nan ! trong lúc tư duy chân lý tìm xét lẽ nhiệm mầu thân tâm như thể tách rời ra không gì ngăn ngại. Đó là hiện tướng trong sáng của tự tánh tràn ra, là công dụng kết quả của thiền giả tự nhiên. Thiền giả phải cảnh giác tự tâm đừng cho đó là sự chứng đắc, càng không nên tự mãn rằng mình được quả Thánh hiền.
Nếu không chấp thì đó cũng là cảnh giới tốt, bằng tự mãn tự cao cho rằng mình chứng
đắc quả vị Thánh hiền thì tự mình lầm lạc rơi vào tà kiến.
Nầy A Nan ! Trong phạm vi sắc ấm thiền giả còn phải đề cao cảnh giác với những hiện tượng như sau:
Khi thiền giả tu tập xa ma tha, tam ma bát đề tâm đứng lặng và sáng suốt, bấy giờ chợt thấy mười phương đại địa hóa thành vàng ròng. Tất cả mọi vật hóa thành Như Lai, Phật. Lại thấy Phật Tỳ lô giá na ngồi trên đài Thiên quang có hàng ngàn đức Phật vây quanh. Trăm ức cõi nước cùng vô số hoa sen đồng thời hiện ra trang nghiêm đẹp đẽ…
Cũng do dụng công tư duy thâm hậu đè nén vọng tâm thái quá bỗng nhiên thấy mười phương hư không thành sắc thất bảo trang nghiêm, sự vật không ngăn ngại nhau ảnh hiện đủ sắc màu: xanh, vàng, đỏ, trắng mỗi mỗi hiện ra.
Có lúc tâm đứng lặng, trí sáng phát sanh, vào giữa đêm đen lại thấy mọi vật tỏ rõ như ban ngày và mọi vật vẫn y nhiên không chút gì thay đổi. Đó là công dụng của tâm đứng lặng phát sanh. Thiền giả không được vui mừng và cũng không chấp mắc…
Có lúc gán ép cái tâm đưa vào hội nhập với hư không, tứ chi thân thể bỗng dưng như cây như cỏ: lửa đốt không nóng, dao cắt không đau. Thậm chí có lúc lửa đốt không cháy; cắt thịt như chẻ cây. Đó là hiện tượng trần tiêu, tứ đại tán. Thiền giả không được vui mừng và không chấp chặt.
Lại cũng do công dụng tập trung tư tưởng quán chiếu chơn tánh dồn ép thái quá, bỗng nhiên thấy mười phương sông núi đại tòng lâm đều thành cõi Phật, đầy dẫy thất bảo, chiếu sáng khắp cùng. Lại chư Phật Như Lai đông như số cát sông Hằng đầy khắp cõi hư
không, ngự trong lâu đài hoa lệ. Dưới thấy địa ngục, trên có thiên cung thông đồng không ngăn ngại. Đó là những tư tưởng ưa thích và chán ghét chứa nhóm lâu đời bị dồn ép bộc
lộ hóa thành ra thế. Thiền giả phải biết, không sanh tâm vui mừng dụng ý bảo thủ chấp nê.
Lại cũng do tư duy sâu sắc dồn nén cái tâm, bỗng dưng giữa đêm đen thấy rõ chợ búa, làng mạc, bà con quyến thuộc phương xa tụ hợp hoặc nghe tiếng nói từ hư không vọng đến. Đó cũng là hiện tượng dồn ép tâm thái quá mà ra. Thiền giả không được vui mừng cũng đừng cho là điều chứng Thánh.
Cũng do sức tư duy nghiên cứu dồn nén căng thẳng về mặt lý trí bỗng thấy vị thiện tri thức hiện đến thân hình và dáng vẻ có thể đổi thay hoặc như trẻ, hoặc như giả, lúc quắc thước phương phi, lúc như trầm ngâm tư lự… Có lúc lại biết thuyết pháp, dạy đời làm cho nhiều người nghe và lầm tưởng là người chứng đắc thánh quả. Thực chất đó là do tâm bị loài ly mị, thiên ma ám hợp không phải chánh chơn của trí tuệ và giải thoát.
A Nan ! Phật dạy tiếp: Mười thứ cảnh giới như thế có thể hiện ra trong lúc Thiền giả tu tập Xa ma tha, tam ma bát đề. Tất cả đều do sắc ấm và công dụng dồn nén vọng tâm mà sanh ra như vậy. Những người có chủng tánh ngoại đạo, chủng tánh phàm phu không được học chánh pháp của Như Lai, trong lúc lập chí và gắng sức tu hành lại gặp những cảnh như vậy họ sanh tâm vui mừng cho là đắc đạo, là chứng Thánh quả. Rồi họ tiếp tục khư khư bảo thủ tự kềm hãm thần thức mình trong những cảnh ấy, hy vọng hưởng lấy y cái thiền vị do mình tu tập thành tựu.
A Nan ! Mười cảnh giới đó vẫn là kết quả do công dụng của thiền na. Thiền giả biết, không chấp thủ, không tự mãn ở đó, thì đó vẫn là cảnh giới tốt không có hại gì. Nhưng nếu sanh tâm chấp thủ, tự mãn cho đó là kết quả cứu cánh mà mình đã đạt đến, lại tự phong Thánh, phong thần thì mắc phải tội đại vọng ngữ. Rốt cuộc rồi vẫn không ra khỏi luân hồi mà lại phải đọa vào ngục vô gián !
Sau Như Lai diệt độ, các ông nương theo lời dạy nầy truyền bá lại cho đời sau, đừng để thiền na, ly mị vọng lượng được dịp khuấy phá người tu. Đó là cách giữ gìn chánh pháp, che chở cho những chúng sanh phát tâm tu hành cầu vô thượng đạo.
VII – NHỮNG HIỆN TƯỚNG THUỘC PHẠM VI THỌ ẤM
Phật bảo: A Nan ! Thiền giả tu pháp xa ma tha tam ma bát đề hết sự trở ngại về sắc ấm rồi, chợt thấy tâm Phật hiện vào tâm mình, tâm mình và tâm Phật như bóng hiện trong gương. Sự giải thoát và trí tuệ dường như có được, nhưng cụ thể thì chưa được phát huy công dụng – Giống như tâm trạng người bị mộc đè – Tay chân y nguyên, thấy nghe không sai, nhưng tâm bị khách tà thành ra không cử động được. Đó là trạng thái của thiền giả
còn lệ thuộc trong phạm vi Thọ ấm.
Khi mộc hết đè thì thân tâm không hoàn toàn lệ thuộc nữa, người đó sẽ thấy biết mặt mình và ở đi tự tại. Tự tâm nhận biết Phật tâm, Phật tâm không ngoài tự tâm, cho nên Phật tâm không phải như bóng hiện trong gương, hiểu rõ như thế, thì thiền giả mới hết sự trở ngại của thọ ấm đồng thời đã vượt qua kiến trược.
A Nan ! Trong lúc tu xa ma tha tam ma bát đề tâm rất sáng suốt và cũng do sự đè nén vọng tâm thái quá, bỗng nhiên phát sanh lòng thương vô hạn. Thương tất cả mọi người, mọi loài, cho đến muỗi mòng, kiến mối, xem như con đỏ của mình: có lúc còn khóc than thảm thiết nước mắt nước mũi tuôn trào khi nhìn thấy các loại côn trùng ăn nuốt cấu xé lẫn nhau. Đó có thể được coi là bình thường, do dụng công đè nén quá độ. Biết thì không có lỗi gì. Giác tĩnh không mê thì tự nó tiêu hết. Nếu không biết, lầm tưởng là mình chứng đắc thì bị giống ma sầu bi xâm nhập tâm can, thấy người thì đau xót, thương khóc muốn đem “bi tâm” ban bủa khắp trần gian. Đó là hiện tượng lầm lạc mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm trong luân hồi.
Lại nữa, A Nan ! Thiền giả hết sắc ấm, bấy giờ thọ ấm tỏ rõ, những cảnh tốt đẹp hiện ra trước mắt. Vì cảm kích quá độ, bỗng ở trong đó sanh lòng dũng mãnh vô hạn, ý chí bằng như Phật. Họ cho rằng tam a tăng kỳ trong một niệm có thể vượt qua. Đó là công dụng lấn lướt quá mức mà sanh ra như thế. Biết thì không có lỗi gì. Không chấp thủ thì lần lần tự nó tiêu mất. Chấp thủ cho là chứng đắc thì giống ma ngông cuồng xâm nhập tâm can, gặp ai khoe nấy, ngã mạn cống cao, trên không còn thấy có Phật, dưới chẳng thấy có người. Thế là lầm lạc sai mất chánh thọ, sẽ bị chìm đắm trong luân hồi.
Lại có thiền giả tu tập thiền định, thọ ấm được tỏ rõ, tiến lên không có chỗ chứng mới, lui về mất sở đắc cũ, trí lực suy kém lơ lững trong chỗ lững lơ, không có gì để nương tựa, bỗng dưng tâm sanh khô khát, lúc nào cũng thầm nhớ không nguôi rồi cho như thế là cái đức tinh tấn. Đó là trạng thái không trí tuệ của những kẻ tu hành lầm lạc. Biết thì hành
giả không có lỗi gì. Nếu đam mê chấp thủ thì có giống ma nhớ, ám nhập vào tâm can, ngày đêm như nắm cái tâm treo vào một chỗ khắc khoải nhớ nhung. Hạng tu hành như thế sai mất chánh thọ, sẽ chìm đắm trong biển luân hồi.
Có hạng thiền giả tu tập thiền định sắc ấm hết, thọ ấm tỏ rõ. Sức tuệ quá nhiều, sức định thì ít: Trí tuệ quá mạnh mẽ và sắc bén, bằng lòng với thắng tánh đó, rồi tự ngờ mình là Phật Lô Xá Na. Đó là kết quả của sự dụng tâm mà quên suy xét, nên đam mê tri kiến của mình. Biết thì hành giả chẳng có lỗi gì. Nếu nhận đó là điều chứng Thánh quả thì bị
giống ma hạ liệt tri túc ám nhập tâm can. Hễ thấy người tự xưng mình được vô thượng đệ nhất nghĩa đế. Hạng người như thế, sai mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm trong luân hồi lục đạo.
Lại có thiền giả chuyên tâm thiền định. Sắc ấm tiêu rồi thọ ấm tỏ rõ, chỗ chứng mới chưa được, tâm đắc cũ đã mất, tâm bỗng sanh lòng lo buồn vô hạn. Tự thấy mình như ngồi giường sắt, như uống nước đồng sôi, chán nản không muốn sống, mong cầu người khác giết mình để được giải thoát. Đó là hiện tượng của sự tu hành sai lạc chánh pháp. Hành giả biết thì không có lỗi gì, nếu đam mê cho là chứng Thánh thì có giống ma ưu phiền ám nhập tâm can, tay cầm dao mác tự cắt thịt mình, thích được bỏ mạng. Đó là hiện tượng tu thiền lầm lạc sai mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm trong biển luân hồi.
Lại có trường hợp, hành giả định tâm chuyên chú trong sáng chẳng có việc gì, bỗng dưng cái mừng vô hạn sanh ra, không sao ngăn được. Đó là hiện tượng khinh an đến với thiền gia, nhưng vì thiếu trí tuệ không đủ sức tự chế tâm mình. Nếu biết thì hành giả chẳng có lỗi gì, còn ham mê cho là chứng Thánh thì có giống ma thích vui mừng ám nhập vào tâm can, hễ thấy người thì cười. Đi ngoài đường tự ca tự hát, tự múa và nói là mình được vô ngại tự tại giải thoát. Đó là biểu hiện của sự tu hành lầm lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm trong biển luân hồi sanh tử ưu bi…
Lại có trường hợp thiền giả đi sâu trong thiền định, bỗng nhiên lòng đại ngã mạn phát ra. Từ đó thường biểu lộ các thứ: mạn, mạn quá mạn, tỵ liệt mạn, tăng thượng mạn. Người nầy xem thường cả hàng Thanh văn, Duyên giác, bất kính cả chư Phật. Nguyên do là thắng giải quá cao mà không đủ trí tuệ để kềm chế. Hành giả biết thì không có lỗi gì, nếu mê chấp cho là chứng Thánh thì bị giống ma đại ngã mạn ám nhập vào tâm can, không tin tam bảo, phá hỏng kinh tượng. Đó là hiện tượng lầm lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm trong luân hồi.
Lại có trường hợp định tâm sáng suốt, tỏ ngộ từng phần chân lý, được sức tùy thuận, tâm bỗng sanh ra trạng thái khinh an vô lượng rồi cho rằng mình chứng Thánh. Đó là nhân có trí tuệ mà có sự khinh an. Hành giả không chấp thì không có lỗi, nếu mê chấp sẽ có giống ma khinh thanh ám nhập tâm can, sanh lòng tự mãn không cầu tiến lên nữa, sai mất
chánh thọ sẽ bị chìm đắm.
Lại có trường hợp tâm trụ thiền định, tâm tỏ ngộ được tánh trong sáng và rỗng rang của vạn pháp. Bấy giờ vô cớ bỗng dưng quay lại hướng về tánh đoạn diệt bác không nhân quả, chủ trương ngoan không, chấp thủ lý không cho rằng vạn pháp đoạn diệt. Hành giả
biết thì không lỗi gì, mê thì có giống ma ngoan không vào trong tim, gan chê bai người tu hành giữ giới, phá các luật nghi, thích ở nhà cư sĩ, uống ăn thô tạp, làm hạnh bất chánh. Thậm chí ăn đồ bất tịnh vì cho rằng tất cả đều không. Đó là hiện tượng lầm lạc, sai mất chánh thọ sẽ bị chìm đắm…
Lại có trường hợp thiền giả chú tâm trong định nghiền ngẫm về tánh trong sáng rỗng rang ghi sâu vào tâm thức, bỗng nhiên tâm sanh lòng yêu vô hạn. Yêu quá phát điên, làm chuyện tham dục. Đó là hiện tượng sắp được định sâu, nhưng không có tuệ để tự chế nên sa vào ngũ dục. Hành giả tỉnh biết thì không có lỗi gì, nếu mê chấp thì có giống ma ngũ dục ám hợp vào tâm can, rồi cho sự dâm dục là Bồ đề, lại dạy các đệ tử bình đẳng làm việc dâm dục, gọi những người hành dâm là những người nối giòng pháp tử. Khi ma chán chường rời bỏ thân thể, không còn uy đức thì thầy trò sa vào lưới pháp luật của quốc gia xã hội. Đó là hiện tượng sai lầm rời xa chánh thọ sẽ bị chìm đắm luân hồi.
A Nan ! Mười thứ cảnh hiện ra trong thiền định như vậy đều do thụ ấm và công dụng tác động giao xen mà hiện ra như thế. Chúng sanh tham mê hiện tượng lạ không biết suy xét tự cho rằng mình đã chứng lên quả Thánh, thành tội đại vọng ngữ phải đọa tam đồ. Nếu có học hiểu kinh giáo tuân theo lời dạy bảo của Như Lai. Khi gặp những cảnh như thế sanh ra phải tự nhủ lòng: đó là cảnh vọng, không được sanh tâm ham hố, không được móng ý duy trì thì tự nó tiêu tan, thiền giả chẳng có lỗi gì. Móng ý tham cầu, trăm người như một lầm lạc đường tà tự chiêu khổ lụy không khỏi luân hồi. Sự tu hành cần khổ,
luống công còn chuốt vào mình tai ương, khổ não, mất đi chánh thọ, sẽ bị luân hồi khó có ngày ra.
VIII – CÁC HIỆN TƯỢNG THUỘC PHẠM VI TƯỞNG ẤM
Phật bảo: Nầy A Nan ! Các thiền giả tu xa ma tha, tam ma bát đề vượt qua thọ ấm, khi thọ ấm hết rồi, dù chưa hết mê lầm, nhưng tâm có thể tách rời khỏi hình hài như chim ra khỏi lồng. Từ đó tiến lên trải qua nhiều hạnh vị và được “ý sanh thân”. YÙ sanh thân có nghĩa là được tùy ý đi ở không còn bị ngăn ngại. Đó là hiện tượng thuộc phạm vi Tưởng ấm.
Đến lúc hết động niệm, vọng tưởng được tiêu, cái tâm giác minh như phủi hết bụi nhơ, dùng trí sáng có thể soi rọi biết được đoạn đường sanh tử của mình trong nhiều giai đoạn. Đó là hiện tượng của hành giả hết rồi tưởng ấm.
Nầy A Nan ! Thiền giả được vượt qua thọ ấm, định tâm tăng tiến sáng suốt và rỗng rang. Và trong khi tiếp tục tu tập Tam ma đề bỗng nhiên tâm ham muốn cầu được công dụng thiện xảo linh thiêng… Thừa dịp vọng tâm sơ hở nầy, thiên ma mượn xác một người khác gá vào và tự khoe mình chứng đắc Niết bàn Phật, đến trước thiền giả hay Phật thuyết pháp. Do uy lực của thiên ma, người nầy hiện lúc trẻ, lúc già, lúc làm tỳ kheo, lúc làm Đế thích, lúc hiện phụ nữ, lúc ở trong nhà tối hiện ánh hào quang. Thiền giả ngu mê kia lầm tưởng là Bồ tát, nghe lời dạy bảo, kính cẩn tin theo, chánh tâm lay chuyển, phá hủy luật nghi làm chuyện dâm dục. Người thiên ma ưa nói chuyện huyễn hoặc để bịp đời như: thời cuộc biến đổi, đao binh sắp xảy ra, hồng thủy sẽ đến, hỏa tai thiêu cả nhân
gian… Đó là giống quái quỷ tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi ma chán rồi, bỏ không gá nữa thì Thầy và đệ tử ngu si đều sa vào lưới luật pháp của quốc gia, và kiếp kiếp xiêu lạc trong luân hồi.
Lại có người đang tu tập tam ma đề bỗng dưng sanh tâm thích đi chơi: thả cho tư tưởng bay đi cảnh nầy xứ nọ. Thừa dịp vọng tâm sơ hở của thiền giả, thiên ma gá vào thân một người khác và tự khoe mình đã được Vô thượng Niết bàn, đến trước thiền giả thích đi chơi kia, trải tòa thuyết pháp. Do uy lực của thiên ma làm cho thiền giả và nhiều người nghe pháp tự thấy mình được ngồi trên hoa sen báu, thân thể biến thân sắc vàng sáng chói. Cả thính chúng cảm phục và được sự an vui chưa từng có. Thiền giả si mê kia tưởng lầm đó là Bồ tát cung kính nghe tin theo lời dạy bảo, làm việc dâm dật, hủy báng chánh pháp. Ma ưa nói: Phật nầy giáng thế chỗ kia. Phật kia độ người chỗ nọ… Người nầy là Bồ tát hóa thân, người kia Thánh mẫu xuống trần độ thế… Những người tu hành vô trí tin theo. Đó là loài bạt quỷ tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi ma chán rồi không gá nữa thì Thầy và đệ tử đều sa vào lưới pháp luật của quốc gia, tất nhiên sau đó luân hồi kiếp kiếp.
Lại có thiền giả trong khi tĩnh tọa trong tam ma bát đề tâm được định tĩnh rồng rang, bỗng nhiên tâm sanh ước vọng muốn cho tâm mình khế hợp chân lý tức thì có được sự ứng hiện hiển linh. Thừa cơ hội sai trái của thiền giả, thiên ma cho tinh thần gá vào một người khác, và tự xưng rằng mình đã được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ thiền giả hâm
mộ khế hợp chơn lý trải tòa thuyết pháp. Thân hình của tất cả mọi người không có gì thay đổi, nhưng trước khi nghe pháp mọi người tự thấy được túc mệnh thông, hoặc tha tâm thông, hoặc biết và nói những chuyện tốt, xấu, tai ương, hay phúc đức của thế gian. Hoặc làm cho mọi người thấy cảnh chư Thiên, cảnh địa ngục, hoặc cho mọi người vốn không học hành lại biết tụng kinh, nói đạo lý… khiến cho ai cũng vui vẻ, kính phục nghe theo
lời thuyết pháp xảo ngụy của thiên ma. Thiền giả trong lúc si mê, lầm tưởng đó là Bồ tát, cung kính tôn trọng và thay đổi lập trường bỏ mất chánh thọ, học làm theo những điều tham dục mà miệng thì ưa nói chuyện Phật. Rằng Phật ở cõi kia, Phật kia giáng trần xứ nọ. Phật nam, Phật nữ, Phật thiệt, Phật giả chủ đích để bịp người tu hành. Đến khi ma chán rồi không gá nữa thì lúc đó Thầy và bọn đệ tử lần lượt sa vào lưới pháp luật của nhơn gian. Người tu hành biết không ham mê thì chẳng có lỗi gì và hiện tượng ấy dần
dần tự nó tiêu diệt, bằng không biết bị rơi vào đường tà kiến lạc vào đường địa ngục luân hồi.
Lại có thiền giả trong khi tập trung tư tưởng trong sáng chuyên chú trong tam ma đề, bỗng dưng tâm sanh đam mê hiểu biết tận tường về căn nguyên của mọi sự vật hiện
tượng. Thiên ma nhờ dịp đó, cho tinh thần gá vào một người khác, tự nhiên nói được kinh pháp và tự xưng rằng mình đã được Vô thượng Niết bàn Phật. Rồi Thiên ma nầy đến chỗ thiền giả tham cầu hiểu biết ấy trải tòa thuyết pháp. Do uy lực của thiên ma khiến cho
mọi người ai nghe cũng đều kính phục. Mọi người đồng ý theo lời dạy của ma rằng Bồ đề Niết bàn, pháp thân Phật chỉ là cái thân xác hiện tiền, không có cái gì khác. Cha sanh con, con sanh cháu, rồi cha con sanh nhau đời nầy sang đời khác, không mất, đó là pháp thân thường trụ chớ không có cõi Phật, cõi Bồ tát, cõi Trời nào khác. Những người tu hành si mê đem thân mạng qui y nghe theo những điều đó, thay đổi lập trường, hủy bỏ chánh
pháp tu theo tà kiến rối loạn chánh thọ làm việc tham dục. Ma ưa thuyết giáo: mắt, tai, mũi, lưỡi là tịnh độ, hai căn nam nữ là chỗ làm cho con người được Bồ đề Niết bàn. Bọn ngu si vô trí đều tin những lời dạy ô uế đó. Thực chất nó là Cổ độc quỷ và thắng ác quỷ, tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi bỏ thân không gá nữa thì thầy ma, trò ma đều sa vào lưới pháp luật của nhơn gian. Người đệ tử Phật chơn chánh biết trước không đam mê theo thì cũng chẳng có lỗi gì. Si mê theo nó thì lạc vào tà kiến sai mất chánh thọ bị đọa địa ngục, luân hồi khó dứt !
Lại có thiền giả tâm được rỗng rang, trong lúc tu tam ma đề bỗng dưng tâm ham thích nổi lên muốn biết việc quá khứ, vị lai, nghiền ngẫm mọi hiện tượng mong được thầm cảm
linh ứng để thỏa mãn yêu cầu. Thiên ma thừa dịp đó cho tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp và tự cho là mình đã được Niết bàn Vô thượng. Ma đến trước thiền giả tham cầu linh ứng kia trải tòa thuyết pháp, khiến cho thính chúng tự cảm thấy thân mình như được trăm ngàn tuổi, tham ái tâm nổi dậy sanh lòng trọng kính ma và không thể rời bỏ được; đem thân làm nô bộc, cúng dường tứ sự không biết mệt mỏi. Mọi người bằng lòng tôn trọng đó là bậc tiên sư, sanh lòng ái pháp dính như keo sơn và được cái chưa từng có. Thiền giả vô trí lại lầm tưởng là Bồ tát hiện đến độ mình, gần gũi, nghe lời dạy bảo sai quấy của ma, hủy phá luật nghi làm việc tham dục bỏ mất thanh tịnh, sai lầm chánh thọ. Thực chất đó là giống lệ quỷ tuổi già thành ma khuấy phá người tu. Khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ thân người không gá nữa, thì thầy và đệ tử ma đều bị sa vào lưới pháp luật của thế gian. Người tu hành biết thì tự nó tiêu tan, bằng đam mê cho là chứng đắc thì sai mất chánh thọ đọa vào địa ngục.
Lại có thiền giả định tâm đứng lặng, tập chú tam ma đề, bỗng dưng tâm ưa thích chỗ
vắng vẻ, muốn sự khắc khổ, ham làm việc cần lao. Thừa dịp đó, thiên ma cho tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp, và tự xưng mình đã được Vô thượng Niết bàn. Ma đến trước thiền giả ham thích khắc khổ, trải tòa thuyết pháp, làm cho thiền giả và nhiều người như tự biết nghiệp cũ, biết về kiếp trước của mình. Ma chỉ người nầy kiếp trước là cọp, người nọ kiếp trước là rắn, người kia kiếp trước là rùa… Ma sai bảo mỗi người tự hiện tướng tựa hồ như thật, do đó mọi người hết lòng kính phục nghe theo
những lời dạy bảo xằng bậy của ma. Người nào móng tâm trái ý nó, nó biết và dùng thể lực mà uy hiếp. Ma lại hiện ra như người tu hành khắc khổ, tinh tấn trong việc cần lao, để chê bai tỳ khưu, mắng nhiếc đồ chúng, phô bày việc xấu của người khác. Ma thường nói chuyện họa phúc, hên xui, nói chuyện may rủi của gia đình người đúng y chuyện nhà của ma vậy. Thực chất đó là giống Đại lực quỷ tuổi già thành ma khuấy phá người tu hành,
khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ thân người kia không gá nữa thì thầy ma, đệ tử ma đều sa vào lưới pháp luật của thế gian. Người tu thiền biết thì ma tự tiêu tan, đam mê ái nhiễm thì sa vào tà kiến luân hồi rồi vào địa ngục.
Lại nữa, có thiền giả tâm được đứng lặng, trong lúc chuyên chú tam ma đề để tâm tìm hiểu muốn biết về túc mạng. Thừa dịp đó Thiên ma gá vào một người nào đó, nói được kinh pháp thông thạo và tự xưng đã chứng được Niết bàn. Ma đến trước thiền giả và nhiễu, trải tòa thuyết pháp. Do thế lực của ma khiến cho những người nghe pháp có được châu báu hoặc ma hiện thân thú vật, miệng ngậm châu ngọc đem cho. Ma lại có thể chỉ chỗ nầy chôn châu báu, chỗ nọ có vật quí chói sáng, khiến cho các người nghe pháp của nó được cái chưa từng có. Ma chỉ ăn cây thuốc, không ăn cơm hoặc một ngày chỉ ăn ít đậu, mè mà thân hình vẫn tốt đẹp; Vì vậy mọi người đều kính phục, tuyệt đối nghe lời. Ma phỉ báng Tỳ khưu, mạt sát đồ chúng. Ma lại chỉ nơi kia là chỗ của các Thánh, chỗ nọ của những người linh hiển… Thâït chất đó là loại quỷ thần rừng núi, hoặc thổ địa thần hoàng tuổi già thành ma khuấy phá người tu hành, xúi giục làm bậy hủy phá luật nghi Phật dạy. Khi ma chán rồi, rời bỏ thân không gá nữa thì thầy, trò đều sa vào lưới pháp luật của thế gian. Người tu thiền phải biết để cảnh giác thì chúng tự tiêu tan, bằng ham
mê thì bỏ mất chánh thọ sai trái chánh kiến sa vào địa ngục.
Lại có thiền giả tâm được đứng lặng, chuyên chú tam ma đề bỗng dưng tâm ham mê biến hóa thần thông, mong được thần lực linh hiển. Thừa dịp đó, thiên ma cho tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp và tự xưng chứng được Vô thượng Niết bàn. Ma đến chỗ thiền giả mong cầu thần thông biến hóa, trải tòa thuyết pháp và tay cầm lửa đưa cao đốt trên đầu mọi người, thế mà không ai thấy nóng. Ma lại hiện ngồi lơ lững trên hư không, hoặc hiện đi trên mặt nước, hoặc vào trong bình, hoặc ở trong đáy, hoặc vượt qua cửa sổ, hoặc đi thông suốt qua tường mà không chút ngăn ngại. Chỉ trừ binh khí gươm
đao thì chưa được tự tại. Ma tự xưng mình là Phật, chịu Tỳ khưu lễ bái, chê bai thiền luật, mắng nhiếc đồ chúng, khuyến khích sự hành dâm, bảo những sự ôm ấp hành lạc với nhau là truyền pháp. Thực chất đó là giống Hải tinh, Sơn tinh, Phong tinh, Thổ tinh và loài tinh mỵ của cây cỏ sống nhiều kiếp trong trời đất, hoặc do loài Tiên đã chết lâu năm, hình hài không nát, loài quái quỷ gá vào. Bọn ấy tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi khuấy phá chán rồi, bỏ thân người không gá nữa thì đệ tử ma, thầy ma đều sa vào lưới pháp luật. Người tu hành biết thì chúng tự tiêu tan, đam mê thì sai mất chánh thọ, đọa lạc địa ngục luân hồi vĩnh kiếp.
Lại có thiền giả định tâm đứng lặng, chuyên trụ tam ma đề bỗng dưng tâm thích vào chỗ diệt tận, nghiên cứu tánh biến hóa, tham muốn cái rỗng không sâu nhiệm. Thừa dịp đó thiên ma cho tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp và tự xưng mình được Vô thượng Niết bàn, đến chỗ thiền giả tham cầu rỗng không ấy trải tòa thuyết pháp – Ở giữa chỗ đông đảo ma bỗng biến mất thành không, từ không hiện ra có lúc hiện thân
mình trong suốt như lưu ly, có lúc dủi tay hiện ra mùi thơm chiên đàn, lúc đưa tay xuống hiện ra mùi phẩn tiểu cứng chắc như đường phèn. Lúc thuyết pháp nói không có nhân, không có quả, chết rồi là hết không có thân sau, khuyến khích mọi người làm việc dâm dục. Và do uy lực của ma những người làm việc dâm dục cũng được cái rỗng không chưa từng có. Thực chất đó là những tinh khí nhật nguyệt bạc thực, vàng, đá, cỏ, cây, quy, phượng, lân, hạc trải qua ngàn vạn năm không chết là các loài tinh trong các quốc độ, đến lúc tuổi già thành ma khuấy rối người tu hành. Khi ma khuấy chán rồi, rời bỏ thân người không gá nữa, thì thầy ma, trò ma tất cả đều sa vào lưới pháp luật của nhân gian. Thiền
giả tu hành, biết cảnh giác thì tự nó tiêu mất, bằng đam mê theo chúng lạc vào tà khiến sai mất chánh thọ đọa vào địa ngục vĩnh kiếp luân hồi.
Lại có thiền giả tâm được rỗng rang đứng lặng, chuyên chú trong tam ma đề, bỗng nhiên sanh tâm ham sống, thích gian khổ, muốn quan sát sự vật tinh vi mong cầu nhiều tuổi, vượt ra cái sống phần đoạn cầu được thường trụ. Thừa dịp ấy, thiên ma cho tinh thần gá vào một người khác, nói được kinh pháp, và tự xưng mình chứng được Vô thượng Niết bàn. Đến trước thiền giả và chỗ đông người, ma diễn trò huyễn hoặc, đến chỗ cách xa trăm dặm lấy một vật làm tin rồi trở về trong giây lát. Hoặc ở trong một căn nhà, mà bảo người đi thử, đi mãi đi hoài mà từ vách bên nầy không đến được phía vách bên kia. Do vậy nhiều người tu hành, các thiền giả hết lòng cung kính tin theo, cho đó là Phật sống hiện ở đời. Được nước, ma tuyên bố thập thương chúng sanh là con đỏ của ta, ta sanh ra chư Phật, ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên tự sanh ra đời, không do tu hành đắc đạo. Thực chất bọn nầy chính là ma trụ thế Tự tại thiên cùng loại với bọn Giá văn trà, Tỳ xá đồng tử ở cõi Tứ thiên vương, thích cái rỗng không chúng nó đến ăn tinh khí người tu hành. Bọn đó có thể hiện làm gái đẹp khêu gợi rủ ren người tu hành làm việc dâm dục, hành sự theo ma không lâu thì tâm can khô kiệt, tinh thần rối loạn, miệng nói lảm nhảm. Những ai rơi vào đường cám dỗ của ma, cuối cùng thầy ma, trò ma đều rơi vào lưới pháp luật của thế gian. Thiền giả biết cảnh giác thì ma tự tiêu mất, bằng mê muội nghe theo sai mất chánh thọ trái đạo Bồ đề sẽ đọa địa ngục vĩnh kiếp luân hồi.
A Nan ! Ông nên biết, mười thứ ma ấy đời sau cách xa chánh pháp, chúng có thể hiện ra trong giới xuất gia của đạo Phật, hoặc gá vào thân người thế gian, hoặc có thể tự hiện. Dù với hình thức nào, chúng cũng tự xưng là đã chứng được Vô thượng chánh biến tri giác. Các loại ma nầy đều khen ngợi sự dâm dục; thầy ma cùng đệ tử ma dâm dục truyền nhau. Mê hoặc nhau thấm sâu tâm can lưu luyến nhau, ít thì chín đời, nhiều thì trăm kiếp, khiến cho người tu hành chân chánh trở thành quyến thuộc của ma, sau khi chết phải làm dân ma mất hết chánh trí đọa vào địa ngục.
A Nan ! Ông hãy phát nguyện vào đời ngũ trược, tung vải lòng đại bi dạy dỗ chúng sanh phát khởi lòng chánh tín, tu theo chánh pháp để được Vô thượng chánh biến tri, xa lánh tà ma ngoại đạo. Được vậy, là ông đã đền đáp ơn Phật. Mười thứ cảnh giới như thế hiện ra trong thiền định đều do tưởng ấm che chướng mà sanh ra, tác hợp với công dụng tu tam ma đề dồn nén vọng tâm hiện những cảnh đó, chứ không phải là hiện tướng chứng quả
hay thành Bồ tát, thành Phật gì. Những người tu thiền không học, chưa nghe lời răn dạy của Như Lai, phần nhiều bằng lòng khi gặp những cảnh giới như vậy và cho là mình đã chứng đắc. Đó là sai lầm nguy hại lớn lao.
A Nan ! Sau Như Lai diệt độ ông nên đem những lời dạy nầy của Như Lai truyền bảo cho chúng sanh hậu thế, khiến cho hiểu rõ nghĩa đó, không để cho thiên ma có dịp khuấy rối. Đó là cách che chở, hộ trì cho chúng sanh, cho những người phát tâm đi vào con đường Vô thượng chánh tri giác.








CHƯƠNG THỨ MƯỜI
I – NHỮNG NHẬN THỨC SAI LẦM THUỘC PHẠM VI HÀNH ẤM
A Nan ! Thiền giả tu tập tam ma đề khi tưởng ấm đã hết thì những tư tưởng bình nhật của người đó đã diệt hết; lúc ngủ, khi thức luôn luôn được giác chiếu rỗng lặng như hư không trong sạch. Những mộng tưởng thô trọng không còn; Nhìn xem cảnh vật, núi, sông, đất liền như một tấm gương trong sáng, đến đi không vướng mắc, qua lại bặt dấu chân, chỉ còn một tánh tinh chân tịch tĩnh. Căn nguyên của mọi hiện tượng sanh diệt từ đây phô
bày trước mắt. Bấy giờ thiền giả thấy rõ 12 loại chúng sanh trong thế giới mười phương; dù chưa thấu suốt manh mối của mỗi chúng sanh, nhưng đã thấy được cơ sở sanh diệt của các chủng loại như bóng dã mã nhấp nhóng hiện ra như mờ như tỏ, chưa xác định rõ
ràng. Đó là phạm vi hành ấm.
Chừng nào những hình bóng lăng xăng như bóng dã mã kia được đứng lặng hoàn toàn như mặt nước ao thì đó là biểu hiện hành ấm đã vượt qua rồi, thiền giả lúc bấy giờ từ bỏ hết chúng sanh được.
A Nan ! Ông nên biết, thiền giả có được sự hiểu biết đúng đắn, chánh tâm tỉnh trụ trong xa ma tha tam ma bát đề thì mười loại thiên ma thuộc thức ấm kia không còn có cơ hội khuấy phá được nữa. Nhưng trong lúc tư duy nghiên cứu nguồn gốc sinh loại, nghiên cứu
đến tột cùng, bấy giờ đầu mối sanh diệt chuyển động lăng xăng u ẩn của sự vật hiện tượng kia, rồi móng tâm cân nhắc so đo và cuối cùng chấp cho đó tánh bản nguyên của vạn pháp. Do đó, họ sa vào chỗ nhận thức sai lầm, chủ trương: “Vô nhân luận” với hai luận cứ sau.
Một là, theo sự thấy biết của họ thì tất cả chúng sanh không có nguyên nhân, tự nó sanh ra kể từ tám muôn kiếp trở lại đây mà thôi. Tùy theo dòng nghiệp báo, có thể chết đây sanh kia xoay dần trong đó, ngoài tám muôn kiếp thì vạn vật “vô nhân”.
Hai là, họ cho rằng tất cả chúng sanh không có nguyên nhân cuối cùng. Theo chỗ thấy biết của họ thì người sanh người, chim sanh chim, quạ thì đen, hạc thì trắng, loài người đứng thẳng sống, loài thú lưng nằm ngang, màu trắng của hạc không do tẩy, màu đen của quạ không do nhuộm; suốt tám muôn kiếp vẫn không hề dời đổi; đời nầy đời khác vẫn như vậy, xưa nay cứ theo qui luật cũ mà lập đi lập lại. Do đó, họ cho rằng họ không hề thấy có gì là Bồ đề, thì làm sao có vấn đề thành đạo Bồ đề, có chứng có ngộ. Quả là mọi sự vật “Vô nhân”.
Do những kiến chấp như thế bỏ mất tánh chánh biến tri, lạc vào tà giáo ngoại đạo, đốt cháy hạt giống Bồ đề. Đó là bọn ngoại đạo thứ nhất, chủ trương “VÔ NHÂN LUẬN”.
A Nan ! Lại có hạng thiền giả trụ trong tam ma đề, tâm đứng lặng rỗng rang, chuyên chú tìm xét nguồn gốc các loại chúng sanh, họ thấy cái tánh chuyển động luôn luôn không ngừng, bèn khởi sanh ý niệm chấp “thường”, họ chủ trương cái thuyết vạn vật “vĩnh viễn thường” của bốn luận cứ:
Một là: Tâm và cảnh vốn không có nguồn gốc. Tuy nhiên tất cả thập phương chúng sanh, sanh ra và diệt đi, sanh diệt diệt sanh trong vòng hai muôn kiếp thì không hề tan mất. Do đó họ cho sinh loại là “thường”.
Hai là: Họ thấy tứ đại là thường còn, thập phương chúng sanh dù có sinh có diệt, tuy nhiên trong phạm vi thời gian bốn muôn kiếp xoay dần sanh diệt nhưng bản thể không hề tan mất. Vì vậy, họ chủ trương trong sinh loại là “thường”.
Ba là: Họ cho tứ đại thường còn, trong phạm vi bốn muôn kiếp, thập phương chúng sanh dù có sinh diệt, nhưng bản thể thường còn không hề tan mất. Do vậy, họ chủ trương vạn vật là “thường”.
Bốn là: Họ xét tội bản lai của sáu căn, của sự chấp thọ, của ý thức của mạt na thức, A lại da thức tánh vẫn thường. Vì vậy, trong phạm vi tám muôn kiếp, tất cả chúng sanh trong thập phương dù có sanh có diệt, nhưng bản thể vẫn thường. Vì vậy, họ chủ trương vạn vật là “thường”.
Do những chấp mắc sai lầm hạn hẹp trong phạm vi thấy biết của họ, mà bỏ chánh biến
tri, lạc vào ngoại đạo, mai một tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ hai chủ trương “Viên thường luận”.
Lại có thiền giả trụ trong tam ma đề, chánh tâm đứng lặng, tìm xét nguồn cội các loại chúng sanh và cái tánh chuyển động kín nhiệm liên tục của sự vật, họ cân nhắc so đo và sanh kiến chấp giữa mình và cái khác. Do kiến chấp sai lầm điên đảo, họ chủ trương: “một phần thường, một phần vô thường” qua bốn luận cứ!
Một là: Họ quán cái tâm của họ là tâm nhiệm mầu sáng suốt đứng lặng cùng khắp mười phương thế giới; họ cho đó là cái thần ngã là cái “ta” cứu kính. Do đó họ chấp có cái ta nhiệm mầu sáng suốt đứng lặng cùng khắp mười phương không lay động. Còn tất cả chúng sanh thì ở trong tâm ta tự sanh tự chết. Vậy tâm tánh của “ta” là thường còn những bọn chúng sanh kia thì là vô thường.
Hai là: Hạng thiền giả không quán xét cái tâm mà chỉ quán xét cõi nước trong hằng sa quốc độ. Họ thấy có chỗ bị thiên tai địa chấn hủy hoại, họ kết luận đó là tánh rốt ráo vô thường; còn những chỗ không bị kiếp tai phá hoại thì họ bảo đó rốt ráo thường.
Ba là: Hạng quán xét cái tâm, cho rằng tâm mình tinh vi nhỏ nhiệm giống như vi trần lưu chuyển trong mười phương mà không bị biến chất, lại có thể gá hợp với thân, sanh rồi diệt, diệt lại sanh mà vẫn thường còn. Đó là tánh thường; còn sự sống chết diệt sanh từ
cái tánh ấy sanh ra thì gọi là vô thường.
Bốn là: Hạng thiền giả họ biết được cái lúc tưởng ấm của họ hết và đồng thời họ cũng biết họ còn đang ở trong phạm vi của hành ấm. Do đó họ chấp cho hành ấm là tánh thường, còn sắc, thọ, tưởng ấm đã hết, họ cho đó vô thường.
Chủ trương “một phần thường, một phần vô thường: như thế phát xuất từ hiểu biết hạn hẹp đối với chân lý, cho nên sai lầm, vì cái nhận thức chân lý của họ chỉ ngang tầm cỡ đó chưa vượt lên được nữa, họ lầm mất tánh Bồ đề. Đó là hạng người đạo thứ ba, lập luận: “một phần thường, một phần vô thường”.
Lại có hạng thiền giả trong tam ma đề nghiền ngẫm cội nguồn hiện tượng vạn hữu, bỗng sanh tâm chấp mắc về phạm vi. Bằng vào sự hiểu biết của mình họ dựng lên thuyết: Hữu biên vô biên luận, qua bốn luận cứ như sau:
Một là, Họ cho là cội gốc sanh tử thì lưu chuyển tương tục không ngừng, rồi chấp quá khứ và vị lai là hữu biên. Còn cái tâm chịu sự sanh tử tương tục là vô biên.
Hai là: Theo họ, trong tám muôn kiếp trở lại, thấy có chúng sanh, còn trước tám muôn kiếp thì bằng bặc không nghe thấy gì. Họ cho rằng chỗ không nghe thấy là vô biên; còn chỗ có chúng sanh là hữu biên.
Ba là: Họ cho rằng họ có cái biết cùng khắp, họ được tánh vô biên; các người khác sanh ra trong cái biết của họ nên chỉ có tánh hữu biên.
Bốn là: Hạng thiền giả đã diệt hết hành ấm, theo tri kiến của họ, thì thân của chúng sanh có một nửa sanh, một nửa diệt, còn các hiện tượng sự vật của thế gian có một nửa hữu biên, một nửa vô biên.
Do sự chấp, mắc sai lầm như thế rơi vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại
đạo thứ tư chủ trương: Hữu biên vô biên luận.
Lại có thiền giả trụ tam ma đề trong lúc nghiền ngẫm cội gốc sanh diệt của hiện tượng
vạn hữu, bỗng sanh kiến giải sai lầm chấp mắc điên đảo. Họ dựng luận thuyết “Bất tử càn loạn” với bốn luận cứ:
Một là: Hạng thiền giả trong lúc quan sát về cội nguồn biến hóa, họ thấy: cái có dời đổi thì gọi là biến; cái gì tương tục thì gọi là thường; chỗ thấy được thì gọi là sanh; chỗ không thấy được gọi là diệt; chỗ tương tục gọi là thêm; chỗ có tiếp giáp của sự tương tục gọi là bớt; chỉ sự vật sanh ra gọi là có; chỗ tương đối không có gọi là không. Do kiến chấp như vậy, cho nên có ai cầu pháp hỏi nghĩa lý về đạo, họ đáp: Ta nay cũng sanh, cũng diệt; cũng có mà cũng không; cũng thêm và cũng bớt. Lúc nào cũng nói lộn quanh khiến cho người nghe không sao hiểu được. Rồi lầm tưởng là mình thấp thỏi còn vị ấy thuyết pháp quá “cao siêu” !
Hai là: Hạng thiền giả chuyên chú xa ma tha tam ma bát đề, nhưng chưa rõ thấu chân lý “không”; Họ cho rằng nhân cái không mà được chứng đạo, họ chỉ đáp bằng một chữ “không”. Ngoài tiếng không, họ chẳng biết gì nữa.
Ba là: Hạng thiền giả sai lầm về chân lý “có”. Họ cho tất cả đều có và do nhận biết vạn pháp là có mà được chứng đạo. Vì vậy, nếu có ai hỏi đến đạo, họ chỉ đáp một chữ “có”. Ngoài chữ có, không còn nói được gì nữa.
Bốn là: Hạng thiền giả chấp ngoại cảnh vừa có vừa không. Vì hoang mang trước cảnh, nên tâm cũng rối loạn. Nếu có ai đến hỏi về đạo lý, họ đáp rằng: vạn vật “cũng có tức là cũng không; trong cái cũng không, không phải là cũng có”. Chúng nói một cách rối loạn càn bậy không sao đúc kết được vấn đề. Do những thứ chấp mắc rối loạn càn bậy như thế mà lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ năm, chủ trương lập ra bốn thứ lý luận “Xà quần” gọi là: “Càn loạn bất tử luận”.
Lại có hạng thiền giả chuyên chú Xa ma tha tam ma bát đề, chánh tâm đứng lặng trong lúc tư duy tìm xét nguồn gốc các sinh loại, bỗng tâm chấp mắc khởi lên, chủ trương cho rằng có dòng sanh diệt vô tận cho nên sau khi con người chết còn có cái tướng diệt sanh vô tận. Họ mê chấp kiến giải sai lầm của mình: Sắc là ta; ta là sắc; Sắc thuộc về ta; ta ở trong sắc. Đối với thọ, tưởng, hành cũng theo lối lý luận như vậy thành ra 16 tướng. Dó chấp mắc như vậy, lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ sáu chủ trương “Ngũ ấm sau khi chết còn có tướng”.
Lại có hạng thiền giả an trú trong tam ma đề, đứng lặng vọng tưởng, tìm xét nguồn gốc sinh loại, bỗng sa vào điên đảo khởi chấp: Sau khi chết không có tướng. Họ cho rằng sau khi chết sắc chẳng còn tồn tại, thọ, tưởng không còn chỗ để tác động gá nương. Vì vậy, sau khi chết không còn có tướng cho đến nhân quả cũng không, Niết bàn cũng không, chỉ có danh tự, kiến chấp như vậy, lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ bảy lập luận: Sau khi chết không còn tướng.
Lại có hạng thiền giả sai lạc vào tà chấp: cho rằng cái có và cái không tự nó đánh đổ nhau. Do vậy, họ lập luận: Sau khi chết không phải có, không phải không. Kiến chấp sai lầm đó khiến cho người tu thiền mờ tịt đường, sau rơi vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Ấy gọi là loại ngoại đạo thứ tám lập luận: Sau khi chết không phải có, không phải không.
Lại có hạng thiền giả tu tập tam ma đề bỗng khởi sanh kiến chấp đoạn diệt. Họ cho rằng: hết thân nầy là diệt; ngũ dục là diệt, hết khổ là diệt; tột vui là diệt, xả hết là diệt; chấp xoay dần bảy cách đoạn diệt. Do kiến chấp sai lầm, lạc vào ngoại đạo, lầm mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ chín, lập luận: Sau khi chết là dứt hẳn.
Lại có hạng thiền giả trong tam ma đề chánh tâm đứng lặng, trong lúc tìm xét nguồn gốc sinh loại đến chỗ u ẩn, bỗng sanh tâm chấp: “Sau nầy còn có”. Dựa vào kiến giải đó, họ chủ trương: Niết bàn luận có năm thứ:
Một, Dục giới là Niết bàn, vì qua sự thấy biết của họ Dục giới vẫn có những sự trong sáng đáng yêu và Dục giới là cơ sở chuyển sanh tử ra Niết bàn.
Hai, Sơ thiền là Niết bàn, vì cõi Sơ thiền không còn ưu thọ. Ba, Nhị thiền là Niết bàn, vì cõi Nhị thiền không còn khổ thọ. Bốn, Tam thiền là Niết bàn, vì cõi Tam thiền rất vui đẹp.
Năm, Tứ thiền là Niết bàn, vì Tứ thiền đã dứt hết khổ và vui. Họ cho rằng đạt đến cõi Tứ
thiền không còn sinh tử luân hồi.
Những cõi trời đó được quả báo an lạc có mức độ, là phước báo hữu lậu, chưa phải là cảnh giới thù thắng thanh tịnh của bậc Thánh hiền. Vì lầm chấp năm thứ Niết bàn phi chân lý nên sa vào ngoại đạo, sai mất tánh Bồ đề. Đó là loại ngoại đạo thứ mười, lập luận điên đảo, chấp trong ngũ ấm có năm thứ Niết bàn.
A Nan ! Mười thứ hiểu biết điên rồ trong Thiền na như vậy là do hành ấm và dụng công chuyển hóa giữa vọng và chân giao tranh nhau mà sanh ra; chúng sanh mê muội không biết, gặp những cảnh như vậy cho rằng mình được chứng đắc Thánh quả sanh tâm ngạo mạn, khoác lác, khoe khoan với ý đồ mê hoặc, bịp bợm người mộ đạo để hổng tom góp lợi dưỡng thỏa mãn hư danh. Hạng ngu si như thế chỉ gạt được những người có tâm mộ đạo mà thiếu học đạo thôi. Với nhãn quang của người trí tuệ tham cứu tinh thường tam tạng giáo điển, nghe qua đã biết cửa địa ngục mở rộng để chờ đón bọn vô minh hắc ám chỉ biết có lợi dưỡng nầy.
Sau Như Lai diệt độ, A Nan ! các ông là những trưởng tử Như Lai phải truyền bá chánh pháp, khiến cho những người ham mộ Bồ đề, Niết bàn hiểu rõ những sai trái nói trên. Có như vậy mới thẳng tiến trên đường Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không sợ lạc lầm.
II – NHỮNG NHẬN THỨC SAI LẦM THUỘC PHẠM VI THỨC ẤM
Phật bảo ! Nầy A Nan ! Người chuyên tu xa ma tha tam ma bát đề, đến khi Hành ấm hết rồi thì những nguyên nhân luân hồi từ nghiệp thô đến tế gần như bặc hẳn; với quả giải thoát giác ngộ người nầy bước đến chẳng còn xa, ví như gà gáy canh năm, nhìn về phương đông đã có hừng sáng ở chân trời. Ở giai đoạn nầy, thiền giả sáu căn rỗng lặng không còn rong ruỗi trần cảnh, nội tâm ngoại thân đều trong sáng, thể nhập tánh vô sở nhập. Thấu suốt nguồn gốc của sinh loại. Thấy biết được tánh tổng quát của thế giới, chỉ còn phần tinh vi u uẩn chưa tận tường. Đó là trạng thái của thiền giả đang còn ở trong phạm vi của thức ấm.
Cho đến khi sáu căn viên dung, hổ dụng, bấy giờ thân tâm và mười phương thế giới trong sáng như ngọc lưu ly. Đó là hiện tượng biểu hiện của thiền giả đã hết thức ấm và vượt
qua mạng trược. Bấy giờ tìm xét lại nguồn gốc của mọi mê lầm thì tất cả chỉ là vọng tưởng điên đảo như huyễn hóa chẳng có gì.
A Nan ! Thiền giả hết thức ấm vượt qua mạng trược, đã diệt được cái quan niệm sanh diệt nhưng chưa đạt đến cái vui tịch diệt, lục căn của người nầy thông suốt, cái hiểu biết của họ dung lặng rỗng thông cùng 10 loài chúng sanh trong mười phương. Dựa trên sự hiểu biết rộng rãi bao quát đó, họ lập ra cái luận thuyết gọi là “nhân chân thường” và chấp mắc nơi đó nên trở thành bè bạn của Sa tỳ Ca la chấp có Minh đế, mê muội Bồ đề Phật,
bỏ mất chánh tri kiến. Đó là bọn ngoại đạo thứ nhất chủ trương: có tâm năng đắc và có cái sở qui.
Lại có thiền giả ở trong tam ma đề, tâm tánh sáng suốt rỗng rang gần đến chỗ viên mãn, bỗng cảm thấy cảnh đối tượng sở qui mà mình cần phải nương tựa. Rồi tự nghĩ rằng: thân tâm mình từ chỗ kia sanh ra, thập phương hư không và thế giới đều từ nơi thân của mình mà sanh ra, do vậy sa vào cái chấp “năng phi năng”, thành bạn bè với bọn Ma hê thủ la, hiện ra thân vô biên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến, đó là loại ngoại đạo thứ hai, lập cái “tâm năng vi” thành cái quả “năng sự” trái ngược Bồ đề Niết bàn, sanh ra giống Đại mạn thiên, chấp có “cái ta” khắp cùng pháp giới.
Lại có thiền giả, trong tam ma bát đề chuyên chú bỗng thấy có chỗ “sở qui”, rồi nghĩ thân tâm mình từ chỗ kia sanh ra và cả thập phương hư không cũng từ chỗ kia sanh ra; rồi nhận “cái chỗ kia” ấy là cái thể chân thường không sanh diệt lại chấp cho là thường trú, chẳng những lầm tánh bất sanh mà cũng lầm cả tánh sanh diệt; cho nên bị rơi vào cái
chấp “thường phi thường”, thành bè bạn những kẻ chấp có Tự tại thiên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó là loại ngoại đạo thứ ba, lập cái tâm nhân y thành cái quả vọng kế, trái với cái nhân Bồ đề Niết bàn sanh ra giống điên đảo.
Lại có thiền giả, định tâm trong sáng, an trú tam ma đề bỗng nảy sinh sự hiểu biết khắp cùng và cho rằng: cỏ cây trong vũ trụ cũng vẫn là hữu tình, giống như con người không khác. Rằng cỏ cây làm người, người làm cỏ cây; thế là bị rơi vào cái chấp “tri vô tri” thành bè bạn với bọn Ba tra tiển ni chấp tất cả đều có hay biết, mê muội Bồ đề Phật. Đó là bọn ngoại đạo thứ tư, chấp cái tâm “viên tri”, thành cái quả thố mậu, trái tánh Niết bàn sanh ra giống Đảo tri.
Lại có thiền giả chuyên chú tam ma đề, thân tâm thanh tịnh các căn có thể dùng thay thế cho nhau (lục căn hỗ dụng) bỗng dưng phát sanh cái ánh sáng của hỏa đại, ưa thích cái tánh thanh tịnh cái tánh sáng của hỏa đại, ưa thích cái tánh thanh tịnh của thủy đại, yêu quí cái chu lưu của phong đại, nghiền ngẫm cái thành tựu của địa đại rồi sùng phụng mỗi thứ, nhận tứ đại kia là bản thân và cho đó là tánh thường trụ, rơi vào cái chấp “sinh vô sinh”, thành bè bạn của bọn Ca diếp ba và bọn Bà la môn đem hết thân tâm thờ lửa, thờ nước để cầu ra khỏi sanh tử. Đó là hàng thiền giả mê muội chánh tri kiến, lầm lạc đường Bồ đề, thuộc hàng ngoại đạo thứ năm, lập cái nhân hư vọng cầu cái quả giả huyễn, đi ngược dòng Niết bàn sanh ra giống điên hóa (điên đảo cái lý sinh hóa của hiện tượng vạn pháp).
Lại có thiền giả tự trụ tam ma đề tâm thanh tịnh rỗng thông bỗng khởi cái tâm chấp “trống rỗng” phủ nhận sự biến hóa của vạn vật, lấy cái tánh đoạn diệt làm chỗ nương tựa của mình; thế là sa vào cái chấp “Quy vô quy”, thành bè bạn với bọn chấp không trong vô tưởng thiên, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó gọi là bọn ngoại đạo thứ sáu, chìm đắm trong tâm hư vô, lập ra cái quả trống rỗng đi ngược dòng Niết bàn, sinh giống đoạn diệt.
Lại có thiền giả trụ trong tam ma đề tâm được đứng lặng sáng suốt, bỗng khởi lên ý niệm muốn củng cố cái thân, làm cho cái thân trở thành chân tường bất hoại, ý niệm phi chơn lý, khiến cho thiền giả rơi vào cái chấp “tham phi tham”, thành bè bạn của A tư đà, một vị Tiên tham vọng trường sanh, mê muội Bồ đề Phật, bỏ mất chánh tri kiến. Đó là loại ngoại đạo thứ bảy tham chấp cái mạng căn, lập cái nhân củng cố vọng thân để cầu cái quả kéo dài lao khổ, trái tánh viên thông đi ngược đường Niết bàn, sinh ra giống vọng điên.
Lại có hàng thiền giả trong tam ma đề nghiền ngẫm tánh không của các hành pháp, bỗng khởi tâm muốn giữ trần lao vì sợ trần lao tiêu hết. Bấy giờ thiền giả vận dụng đạo lực hóa hiện tự thân ở Liên hoa cung, thất bảo huy hoàng, cực kỳ tráng lệ; tai hóa hiện ra nhiều
gái đẹp xinh để cùng vui hưởng thụ thỏa mãn tâm buông lung. Sự đam mê đó khiến cho hành giả sa vào cái chấp “chân vô chân”, thành bè bạn của bọn Tra chỉ la mê muội Bồ đề Phật, mất hết chánh tri kiến. Đó là loại ngoại đạo thứ tám, lập cái nhân tà tu thành cái quả xí trần (sợ trần lao bị tiêu hết).
Lại có thiền giả an trú trong xa ma tha tam ma thiền na tham cứu xét tột tánh không của các hành pháp nhưng chưa đạt đến chỗ tịch diệt viên mãn, ở nơi thể viên minh nguồn gốc của sinh mạng sanh ra ý niệm phân biệt cái thô, cái phần chân, phần ngụy nghĩa là nhận
rõ về khổ đế, đoạn trừ tập đế, cầu chứng diệt đế, thực hành đạo đế. Khi chứng diệt đế rồi, không cầu tiến thêm và bằng lòng cho đó là cái đích cứu cánh sở đắc của mình. Người khởi chấp như vậy gọi là định tánh Thanh Văn, thành bè bạn của Vô văn tăng, vướng
phải bệnh tăng thượng mạn, mê muội Bồ đề Phật, mất hết chánh tri kiến; đó là bọn thứ chín mong cầu cái tâm ứng nghiệm viên mãn thành cái quả thú tịch diệt, trái với tánh viên thông, ngược lại đường Niết bàn sinh ra hạng người triền không.
Lại có thiền giả ở trong xa ma tha tam ma bát đề, rõ suốt được tánh không của các hành pháp, bấy giờ ở trong tánh giác minh thanh tịnh, phát minh tánh thâm diệu rồi nhận đó là Niết bàn, không có tâm cầu tiến, thế là sa vào hàng định tánh Bích chi, thành bè bạn của hàng Duyên giác, Độc giác. Nếu trụ ở đây, không phát tâm hướng thượng đại thừa thì
mất đi chánh tri kiến, mê muội Bồ đề Phật, trở thành bọn thứ mười họ thành tựu được giác tâm vắng lặng lập ra cái quả trạm nhiên, trái với tánh viên thông, đi ngược đường Niết bàn vô thượng sinh ra một hạng giác ngộ viên minh nhưng không tiêu hóa được cái tánh viên minh sở qui.
A Nan ! Mười thứ thiền na như vậy, người tu hành giữa lúc đang tinh tấn say mê bỗng có thể hóa điên cuồng đãng trí, vì đam mê theo cái vọng kiến trong lúc dụng công. Những cảnh giới, những cái thấy biết trong thiền na chưa phải là cảnh giới tối hậu cần đạt đến. Thiền giả nhận thức sai lầm chỗ chưa đủ cho là đủ, khởi tâm năng đắc, được cảnh sở chứng, tưởng đó là cảnh giới Vô thượng Bồ đề, tự cao tự mãn cho rằng mình đã chứng Thánh quả, mắc tội đại vọng ngữ. Khi nghiệp báo hết rồi phải sa vào địa ngục; còn hàng Thanh văn, Duyên giác thì không tiến lên được nữa.
A Nan ! Sau Như Lai diệt độ, các ông hãy trân trọng ghi nhớ lời dạy của Phật, đem
những pháp môn Như Lai dạy truyền bá, khiến cho chúng sanh đời sau những người phát tâm tu Thiền na biết rõ những cảnh giới hư vọng hiện ra trong lúc tu thiền và những tư duy lệch lạc, những chấp mắc sai lầm cho ngũ ấm ma vọng khởi. Người tu tập thiền na phải luôn luôn đề cao cảnh giác mới tránh khỏi các thứ ma tà kiến ấy nhiễu hại mà hoang phí một đời tu. Các ông phải sáng suốt giữ gìn thân tâm, nắm giữ chánh tri kiến của Phật, từ lúc ban đầu cho đến khi thành tựu, không dễ đi lạc vào các con đường tẻ của ngoại
đạo, do lầm chấp và đam mê theo vọng cảnh tà kiến bởi sự “che phủ” của các ma ngũ ấm.
Các Như Lai trong mười phương đã vận dụng trí tuệ ba la mật, khéo léo vượt qua mà thẳng tiến đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Chừng nào thức ấm hết rồi thì hiện tiền sáu căn sẽ trở thành hỗ dụng, có thể thay thế cho nhau, bấy giờ hành giả sẽ lên bậc kim cang. Càn tuệ Bồ tát. Cái tâm trong sáng tròn đầy được tỏ rõ như mặt trăng dằn dặc ảnh hiện trong viên ngọc lưu ly toàn bích. Rồi cứ thế mà vượt lên thứ bậc: thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh và thập địa kim cang đạo. Bấy giờ tánh đẳng giác được tròn đầy vào bể Diệu Trang Nghiêm của Như Lai, viên mãn đạo Bồ đề, về đến chỗ “VÔ SỞ ĐẮC”.
****
A Nan ! Những cảnh tướng hiện ra trong lúc tu thiền na, những ý nghĩ rồi sanh khởi sự chấp mắc theo kiến giả của mình lập ra những luận cứ chủ trương: Thần ngã, Minh đế, đoạn, thường, có, không v.v… Tất cả đều gọi chung là “ma sự”, vì có tánh chướng ngại, khuấy phá, cản trở bước tiến của người tu thiền. Chẳng những vậy, nó còn có thể chận đứng lại để rồi bằng lòng với cái tri kiến hạn hẹp, phi chân lý, thành người ngoại đạo hư cháy hạt giống Bồ đề.
Chư Phật Thế Tôn trong quá khứ đã nghiệm xét, phân biệt và đã giác ngộ, chiến thắng với các ma sự mà thẳng tiến trên đường Bồ đề.
Sau Như Lai diệt độ. A Nan ! Các ông phải hướng dẫn cho những người tu tập thiền na học hỏi Phật pháp, nhận rõ các ma sự trong lúc tu chỉ quán thì ấm ma tự tiêu, thiên ma tự biến, đại lực quỷ hoảng sợ chạy trốn, ly mị vọng lượng không sanh ra được.
A Nan ! Bản giác vốn tròn sáng không có tướng sanh tử vãng lai. Vọng thì không có nhân. Khi chưa ra khỏi vọng, nhìn vạn pháp cho đó là nhân duyên sanh. Mê tánh nhân duyên thì gọi là tự nhiên có. Nhân duyên đều là những so đo của vọng tưởng. Bản nhân của ngũ ấm cũng là vọng tưởng như vậy.
A Nan ! Thân thể của ông cũng nhân cái tưởng của cha mẹ mà sinh. Tâm của ông nếu không phải tưởng thì không thể đến gá cái mạng vào trong tưởng. Như Lai đã từng nói: Tâm tưởng vị chua, trong miệng nước bọt chảy ra, tâm tưởng leo cao trong lòng bàn chân nghe ghê rợn. Dốc cao không có, vậy chua chưa đến, thân thể của ông nếu không phải cùng loại với vọng tưởng thì làm sao nhân nghe nói chua trong miệng nước bọt lại chảy
ra ? Vậy nên biết rằng sắc thân hiện tiền của ông gọi là vọng tưởng kiên cố thứ nhất.
Ngay nơi tâm tưởng tượng leo lên cao, có thể khiến thân ông chịu sự ghê rợn, đó là nhân “cảm thọ” mà sinh ra, khiến xúc động đến sắc thân – Nên biết rằng hiện nay hai thứ “thọ”, thọ sung sướng hoặc “thọ” ghê sợ, đang rong ruổi nơi ông, đó là vọng tưởng “hư minh” thứ hai.
Do ý nghĩ sai khiến sắc thân ông, nếu sắc thân không phải cùng loại thì làm sao sắc thân ông lại theo ý nghĩ sai khiến thọ nhận các thứ hình tượng rồi sinh tâm chấp nhận những hình tượng phù hợp với ý nghĩ ! Cái ý nghĩ lúc thức gọi là tưởng, ý nghĩ lúc ngủ thì gọi là mộng. Những vọng tánh lay động mộng tưởng của ông gọi là vọng tưởng hư dung thứ ba.
Sự chuyển hóa không ngừng thầm dời đổi: móng tay ra, tóc dài, khí lực mòn, da mặt nhăn, ngày đêm biến đổi mà không hay biết.
A Nan ! Nếu cái đó không phải là ông thì làm sao thân ông lại thay đổi, nhưng nếu những thứ đó là ông thì sao ông không hay biết ? Vậy các “hành” niệm niệm không dừng của ông, gọi là vọng tưởng u ẩn thứ tư.
Chỗ tinh minh đứng lặng không lay động của ông gọi là thường còn, trong khi thân ông không ra ngoài những sự thấy, nghe, hay, biết. Nếu “cái thường còn” đó, thật là tánh tinh chân của ông thì lẽ ra nó sẽ không huân tập tiếp thu những điều vọng và nếu vậy thì sau những năm về trước ông đã xem thấy một vật lạ, trải qua nhiều năm không hề nghĩ đến, về sau tình cờ gặp lại vật là đó thì nhớ lại rõ ràng ? Vậy nên biết rằng cái tánh tinh minh đứng lặng đó, từng niệm, từng niệm chịu huân tập không thể tính lường hết được. A Nan
! Nên biết cái tánh đứng lặng đó không phải thật, như nước chảy gấp mà trông như đứng lặng vậy thôi, chớ không phải không chảy. Nếu cái tánh đứng lặng của ông không phải vọng tưởng thì đâu lại chịu để vọng tưởng huấn tập vào. Chừng nào mà sáu căn của ông chưa được tự tại, hợp, ly dùng thay lẫn nhau thì cái vọng tưởng đó không lúc nào diệt được. Vậy nên biết rằng cái tập khí quán xuyến, điều khiển những điều thấy, nghe, hay, biết của ông, là cái vọng tưởng điên đảo vi tế huyễn hóa rỗng trống thứ năm.
A Nan ! Năm ấm đó do năm thứ vọng tưởng như thế mà tạo thành. Nay ông muốn biết giới hạn, sâu cạn thì hãy ghi nhớ các tiêu chuẩn nhận thức như vầy:
Sắc và không là biên giới của sắc ấm. Xúc và ly là biên giới của Thọ ấm. Nhớ và quên là biên giới của Tưởng ấm. Diệt và sinh là biên giới của Hành ấm. Đứng lặng hợp với đứng lặng là biên giới của Thức ấm.
Năm ấm ấy trùng điệp sanh khởi. Sanh nhân thức ấm mà có. Diệt từ sắc ấm mà trừ. Lý thì ngộ liền, nhân ngộ mà tất cả vọng tưởng đều tiêu. Sự không thể trừ liền, theo thứ lớp mà diệt.
A Nan ! Như Lai đã chỉ cho ông về cái gút của khăn kiếp ba la đã quá rõ ràng, ông còn
hỏi lại chi nữa ! Tâm ông cần phải thông suốt cội gốc vọng tưởng đó. Rồi đem truyền dạy cho người tu hành hậu thế khiến cho họ biết vọng tưởng là vọng để sanh tâm nhàm chán, và biết có Niết bàn mà không lưu luyến ba cõi.
III – PHẦN LƯU THÔNG
Phật bảo: A Nan ! Giả sử có người đem thất bảo đầy ngập hư không cùng khắp mười phương dâng cúng chư Phật nhiều như số vi trần, mà tâm không lúc nào xao lãng, ý ông nghĩ thế nào ? Người đó do nhân duyên cúng dường Phật như thế, phước đức có nhiều chăng ?
Ông A Nan thưa ! Bạch Thế Tôn ! Hư không vô tận, trân bảo không cùng. Như lời Phật dạy, ngày xưa có chúng sanh cúng Phật chỉ có bảy đồng tiền, vậy mà khi xả thân còn được phước báo làm chuyển luân vương, huống nữa trân bảo vô lượng, cúng dường chư Phật vô lượng khắp mười phương thì dùng trí mà suy nghĩ cùng tột, ức kiếp không thể thấu được, vì phước đức ấy không có ngằn mé !
Phật bảo: A Nan ! Chư Phật Như Lai lời nói không hư vọng, giả sử có người gây đủ các tội: Tứ trọng, thập ác, giây lát phải trải qua địa ngục A tỳ phương nầy sang phương khác cho đến cùng khắp các địa ngục vô gián trong mười phương, nhưng nếu người đó cùng
một niệm đem pháp môn nầy truyền bá cho người chưa học trong đời sau thì tội chướng người đó liền được tiêu hết, biến cái nhân phải chịu khổ ở địa ngục thành cái nhân sanh
về cõi an lạc. Niết bàn, được phúc vượt hơn người bố thí cúng dường trước kia trăm ngàn lần, muôn ức vạn lần cho đến không thể dùng toán số so sánh, không thể có ngữ ngôn nói hết được.
Đức Thế Tôn nói kinh nầy rồi, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả
Trời, Người, A tu la, các vị Bồ tát, Nhị thừa, Thánh Tiên, đồng tử và các đại lực quỷ thần mới phát tâm, đều rất vui mừng lễ Phật mà lui.
PHẦN PHỤ LỤC
QUẢ VÔ THƯƠ.NG NIẾT BÀN CỦA NHƯ LAI CHỈ LÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH VỚI DỤC VỌNG VÀ CHIẾN THẮNG HOÀN TOÀN BỌN GIẶC CƯỚP PHIỀN NÃO VÔ MINH
I. – MUỐN HIỂU NIẾT BÀN TRƯỚC HẾT CẦN ĐIỀU CHỈNH NHỮNG
QUAN NIỆM NGỘ NHẬN VỀ NIẾT BÀN
Niết bàn là một mục tiêu cần đạt đến của người đệ tử Phật hiếu học, ham tu. Ngộ nhận Niết bàn cũng tức là ngộ nhận mục tiêu mà mình muốn đến. Cho nên người đệ tử Phật muốn hiểu Niết bàn, trước hết cần điều chỉnh những quan niệm ngộ nhận Niết bàn.
* Có người quan niệm Niết bàn là một cảnh giới cách xa với quả địa cầu mà con người
đang sanh sống.
Đức Phật và các hàng đệ tử Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát đều có được Niết bàn ở trên mặt đất nầy. Điều đó nói rất rõ: Rằng Niết bàn không phải là một cảnh giới ở xa.
* Có người hiểu Niết bàn là cảnh giới siêu nhiên, cảnh giới đó không có không gian và thời gian.
Hiểu như vậy thật rất lạ kỳ ! Không có không gian, không có thời gian thì sao gọi là
“cảnh giới” nhỉ ! Cho nên Niết bàn không phải là “cảnh giới” lạ kỳ đó.
Có người quan niệm rằng: Niết bàn là cảnh giới tuyệt đối. Không thể dùng trí của con người mà khái niệm.
Nói như vậy nghe không ổn. Không thể dùng trí của con người khái niệm, vậy “cảnh giới tuyệt đối Niết bàn đó có” để làm gì ? Nó sẽ phục vụ cho ai, khi con người không thể khái niệm ?
Tệ hơn hết là hạng người cho rằng Niết bàn vẫn còn dục vọng ái ân, tình tứ cho nên họ vắt óc nặn ra cái quái thai “Niết bàn rực cháy” với cốt truyện nhố nhăn, dụng ý bôi bác Niết bàn Phật.
Đó là những nhận thức sai lầm đã có, đang có và mãi mãi sẽ còn có.
II. – HIỂU ĐÚNG NGHĨA NIẾT BÀN
MỚI TÌM THẤY VÀ BIẾT ĐƯƠ.C NIẾT BÀN
Niết bàn không phải là một cảnh giới, bất cứ với dạng cảnh giới nào.
Niết bàn sẽ không có ở đâu hết, nhưng Niết bàn cũng sẽ ở tất cả mọi nơi chốn. Niết bàn có, hay không có, tùy thuộc ở con người, chớ không do cảnh Niết bàn có, hay không có.
Bởi vì, Niết bàn là gì ?
Niết bàn là dịch âm của chữ NIRVANA, chữ Phạn. Với cái âm NIRVANA cho nên có nhà Phật học dịch là Niết bàn na.
YÙ nghĩa của chữ Niết bàn, luận Bà Sa định nghĩa:
NIẾT có nghĩa là ra khỏi. BÀN có nghĩa là rừng ngũ uẩn. Ra khỏi rừng ngũ uẩn là có
Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là dệt. Không dệt thêm phiền não là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là hậu hữu. Không còn hậu hữu là có Niết bàn. NIẾT là xa lìa. BÀN là ràng buộc. Xa lìa sự ràng buộc là Niết bàn. NIẾT là vượt qua. BÀN là khổ nạn. Vượt qua hết khổ nạn là Niết bàn. Theo Kinh Đại Niết Bàn định nghĩa:
NIẾT là không. BÀN là phiền não che chướng. Không phiền não che chướng là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là tham tài. Không tham tài là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là tham sắc. Không tham sắc là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là tham danh. Không tham danh là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là tham lợi. Không tham lợi là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là sân nộ. Không sân nộ là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là si ám. Không si ám là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là mạn. Không mạn là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là do dự trước lẽ phải, điều thiện. Không do dự trước lẽ phải, điều thiện là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là nhận thức sai chân lý. Không nhận thức sai chân lý là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là phẫn nộ. Không phẫn nộ là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là hờn mát. Không hờn mát là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là che dấu tội lỗi. Không che dấu tội lỗi là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là rầu rĩ. Không rầu rĩ là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ganh ghét. Không ganh ghét là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là keo kiết. Không keo kiết là Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là lừa đảo. Không lừa đảo là Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là dua nịnh. Không dua nịnh là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là hãm hại. Không hãm hại là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là kiêu căng. Không kiêu căng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là không biết tự hổ với lương tâm. Không có cái tánh không biết tự
hổ với lương tâm là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là không biết nhục trước người khác. Không có tánh không biết nhục trước người khác là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là hốp tốp, vội vã. Không hốp tốp, vội vã là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là ám độn, đờ đẫn. Không ám độn, đờ đẫn là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là không có đức tin. Không có cái không có đức tin là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là lười biếng. Không lười biếng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là buông lung ba nghiệp. Không buông lung ba nghiệp là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là quên hết, đầu óc trống rỗng. Không có quên hết, đầu óc trống rỗng là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là nghĩ ngợi lăng xăng. Không nghĩ ngợi lăng xăng là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là hiểu biết không đúng. Không hiểu biết không đúng là có Niết
bàn.
NIẾT là không. BÀN là mừng thái quá. Không mừng thái quá là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là giận. Không có giận là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là thương thái quá. Không thương thái quá là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là sợ sệt. Không sợ sệt là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là yêu thái quá. Không yêu thái quá là có Niết bàn. NIẾT là không. BÀN là ghét. Không ghét là có Niết bàn.
NIẾT là không. BÀN là ham muốn. Không ham muốn là có Niết bàn.
Lại nữa, chữ Niết bàn còn được dịch là: VIÊN TỊCH, DIỆT ĐỘ, BẤT SANH, TỊCH DIỆT, AN LẠC, GIẢI THOÁT.
VIÊN TỊCH có nghĩa là vô lượng công đức lành đều viên mãn, vô lượng phiền não đều vắng lặng.
DIỆT ĐỘ có nghĩa là diệt hết mọi người nguyên nhân sanh tử, ưu bi, khổ não, và vượt qua các khổ não, sanh tử, ưu bi ấy.
BẤT SANH nghĩa là thể nhập được chân lý bất sanh của hiện tượng vạn pháp.
TỊCH DIỆT có nghĩa là đã diệt hết cái quan niệm sanh diệt của hiện tượng vạn pháp. AN LẠC nghĩa là luôn luôn ở trong trạng thái tịnh lạc khinh an.
GIẢI THOÁT có nghĩa là cởi bỏ hết phiền não, xa lìa hết các buộc ràng.
NIẾT BÀN có nhiều ý như vậy. Tuy nhiên, ý nghĩa của Niết bàn dù diễn đạt chi li hay súc tích khái quát, người đệ tử Phật vẫn hiểu đó là đức GIẢI THOÁT trong ba đức: PHÁP THÂN, BÁT NHÃ và GIẢI THOÁT của một đấng Thế tôn.
III. – NIẾT BÀN KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CẢNH GIỚI DÀNH ĐỂ CHO MỘT HẠNG NGƯỜI
Như ta đã biết, Niết bàn chỉ là kết quả của sự đấu tranh và chiến thắng. Mà đấu tranh thì có thể tích cực hoặc chưa tích cực. Chiến thắng cũng có thể toàn diện hoặc cũng có thể còn đang trên đà chiến thắng. Do vậy mà quả Niết bàn có bốn bậc khác nhau.
1/- TỰ TÁNH BẢN LAI THANH TỊNH NIẾT BÀN
Giáo lý của đạo Phật dạy rằng: Tự tánh của con người vốn thanh tịnh. Tánh thanh tịnh đó
được gọi là Niết bàn. Và Niết bàn chính là cái tự tánh bản lai thanh tịnh đó.
Phật dạy rằng: Con người có thể có phiền não, bị phiền não tác động hoành hành, khi con người mất tự chủ, quên cảnh giác đối với cái tâm tánh thanh tịnh vốn có của mình. Dù
vậy phiền não có đến rồi phải đi, ví như khách, tung lên rồi phải lắng xuống, ví như trần. Phiền não đối với tự tánh bản lai thanh tịnh Niết bàn của con người, chúng chỉ là thứ “khách trần” mà thôi.
2/- HỮU DƯ Y NIẾT BÀN
Do công phu tu tập, đấu tranh với dục vọng, hóa giải từng phần lượng phiền não vô minh mà có được Niết bàn, tức là có được sự thanh tịnh tự thân tâm, sự khinh an, giải thoát mọi khổ đau, ràng buộc trong cuộc sống của đời mình. Được sự khinh an, giải thoát của Niết bàn mà cái thân hữu lậu hãy còn vẫn là chỗ sở y cho dòng sinh mệnh, gọi đó NIẾT BÀN HỮU DƯ Y.
3/- VÔ DƯ Y NIẾT BÀN
Diệt phiền não vô minh, chiến thắng liệt oanh với dục vọng, hiện đời đã được Niết bàn, các nguyên nhân hữu lậu ở đời sau cũng cắt đứt và cái thân sở y của dòng sinh mệnh cũng chết mất đi không còn hiện hữu, gọi đó là NIẾT BÀN VÔ DƯ Y.
4/- VÔ TRỤ XỨ NIẾT BÀN
Thứ Niết bàn nầy ở mọi chốn nơi, ở mọi hoàn cảnh, ở ngay trong sanh tử mà không rời
Niết bàn.
Người nhị thừa, tức hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ chiến thắng được “phiền não chướng” mà có được Niết bàn, cho nên ham trụ Niết bàn mà chán sợ sinh tử.
Phật quả, ở địa vị Phật chiến thắng hoàn toàn “phiền não chướng” và tiêu trừ tận gốc rễ “sở tri chướng”. Cho nên dùng Phật nhãn mà quan sát thì: phiền não tức Bồ đề, sanh tử tức Niết bàn. Vì Niết bàn ở trong sanh tử cho nên ở trong sanh tử làm lợi lạc chúng sanh mà không chánh sanh tử, cũng không ham trụ Niết bàn, gọi đó là NIẾT BÀN VÔ TRỤ
XỨ.
Qua nhận thức trên ta thấy Niết bàn chỉ là kết quả của quá trình đấu tranh với dục vọng và chiến thắng từng phần đối với những thứ giặc phiền não vô minh. Chừng nào diệt trừ tận gốc rễ phiền não, chiếu phá hoàn toàn sạch hết bóng tối vô minh thành tựu quả Đại Giác. Thế Tôn, bấy giờ mới long trọng tuyên bố: Rằng Như Lai đã chứng đắc QUẢ NIẾT BÀN VÔ THƯƠÏNG.
Viết tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT Ngày 20 tháng 12 năm 1990

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

* Quý vị có thể để lại nhận xét, cảm nhận dưới mỗi bài viết nhưng:
- Không bàn luận đến chính trị của các quốc gia trên thế giới.
- Không được bàn luận hay phỉ báng bất kỳ tôn giáo nào khác.
- Không bàn luận tới sắc tộc gây chia rẽ các dân tộc trên toàn thế giới.
- Không viết những lời thô tục
- Không xúc phạm, chửi bới người khác
- Không đặt liên kết tới những Website đen, có chứa Vi rút hay những phần mềm có chứa mã độc hại
+ Chỉ bàn luận những lĩnh vực liên quan tới Phật Giáo.
+ Hãy giới thiệu Website này tới những người thân, bạn bè của quý vị. Những người không theo, sẽ theo và đã theo Đạo Phật đều có thể xem và tim hiểu trên Website này.
* Trân trọng cám ơn!