-->

Tìm Kiếm Trong Blog Tâm Linh Học

Loading

2011-08-19

Kinh Pháp Hoa-Phẩm 12-20



PHẨM 12
ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA
Lúc bấy giờ Phật bảo các Bồ tát và bốn chúng: trong quá khứ vô lượng kiếp, ta đã tìm cầu kinh Pháp Hoa không hề biếng trễ. Nhiều kiếp ta thường làm vua phát nguyện cầu đạo Bồ đề lòng không thối chuyển vì muốn đầy đủ 6 pháp Ba la mật, ta siêng làm việc bố thí lòng không luyến tiếc một vật gì, dù đó là tiền bạc, châu báu, đất đai, vợ con, tôi tớ hay thân thể của ta. Vì lòng mến chánh pháp, ta nhường ngôi cho Thái tử và truyền rao trong dân chúng, rằng ai nói được pháp Đại thừa cho ta nghe, ta sẽ trọn đời hiến thân làm tôi tớ hầu hạ.

Bấy giờ có họ Tiên, nhận tuyên nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, nếu nhà vua không trái ý ông. Vua chịu theo và hầu hạ vị Tiên làm đủ mọi việc, trải một ngàn năm hết lòng siêng năng vì trọng pháp.
Phật nói tiếp: Nhà vua thuở ấy nay là ta, còn vị Tiên nay là Đề Bà Đạt Đa đấy. Ta nay thành Phật là nhờ vị thiện tri thức đó. Trong vô lượng kiếp về sau, Đề Bà Đạt Đa sẽ thành Phật hiệu là Thiên Vương, nước của Phật là Thiên Đạo. Phật Thiên Vương trụ ở đời 20 trung kiếp, hằng hà chúng sanh nhờ pháp nhiệm mầu của Phật mà được quả A La Hớn, quả Bích Chi Phật và phát tâm Vô thượng Bồ đề được Vô sanh pháp nhẫn đến bậc bất
thối chuyển.
Sau khi Phật Thiên Vương nhập Niết bàn, chánh pháp trụ ở đời 20 trung kiếp. Nhờ cúng dường tháp bảy báu đựng toàn thân Xá lợi của Phật Thiên Vương mà chúng sanh được quả A La Hớn, Bích Chi Phật và phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Đức Phật bảo các Tỳ kheo: Trong vị lai thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe phẩm Đề Bà Đạt Đa mà sanh lòng trong sáng, kính tin không nghi ngờ thì những thiện nam, thiện nữ ấy không đọa vào ba đường ác, được sanh nơi các nước Phật và chỗ người đó sanh thường được nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thì hưởng sự vui sướng tột cùng. Nếu sanh ở trước mặt Phật thì từ hoa sen hóa sanh.
Lúc bấy giờ Bồ tát Trí Tích, thị giả của Phật Đa Bảo bạch xin phép Phật Đa Bảo trở về nước. Đức Phật Thích Ca mới bảo Bồ tát Trí Tích: Thiện nam tử! hãy chờ giây lát ở đây có Bồ tát Văn Thù và ông cùng Văn Thù có thể cùng nhau ra mắt mà luận nói pháp mầu, xong rồi sẽ về.
Lúc bấy giờ Bồ tát Văn Thù và các Bồ tát tùy tùng ngồi trên hoa sen lớn từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu từ hoa sen bước xuống làm lễ đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca. Kế đến hỏi thăm Bồ tát Trí Tích rồi ngồi qua một bên.
Bồ tát Trí Tích hỏi Bồ tát Văn Thù : “Ngài qua cung rồng hóa độ được bao nhiêu chúng sanh?” Bồ tát Văn Thù đáp: Vô lượng, trong giây lát ngài sẽ tự chứng biết”.
Văn Thù nói chưa dứt lời, vô số Bồ tát ngồi hoa sen từ biển vọt lên, đến núi Linh Thứu, trụ trong hư hông. Tất cả đều do Bồ tát Văn Thù hóa độ.
Bồ tát Trí Tích thấy vậy bèn nói một bài kệ tán thán:
Đức của Đại trí thật mạnh mẽ Hóa độ được vô lượng chúng sanh Nay trong đại hội nầy
Tất cả nhận thấy rõ
Đại trí nói nghĩa “Thật tướng”
Mở bày pháp “Nhất thừa” Rộng độ các chúng sanh Khiến mau thành Chánh giác.
Bồ tát Đại Trí Văn Thù nói: Ở biển, tôi thường tuyên dạy Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Bồ tát Trí Tích hỏi: Kinh nầy rất thâm diệu. Vậy có chúng sanh nào siêng tu theo kinh nầy mà mau thành Phật không? Bồ tát Đại Trí Văn Thù đáp: có con gái của Long vương mới lên tám tuổi mà đầy đủ trí đức, trong khoảnh khắc phát Bồ đề tâm là được bất thối chuyển, biện tài vô ngại, từ bi rộng lớn, công đức đầy đủ, có khả năng đến quả Bồ đề.
Bồ tát Trí Tích nói: Chính đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ, chứa nhiều công đức, làm những việc khó làm mới thành được đạo Bồ đề, làm sao tin được chuyện Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác. Luận đàm chưa dứt bỗng nhiên Long nữ hiện ra lễ Phật rồi đứng qua một bên nói bài kệ tán thán Pháp thân, Báo thân và Ứng thân Phật và cho biết là nàng do đã nghe được nghĩa “thật tướng” của nền giáo lý “nhất thừa” mà được chóng thành Bồ đề đạo. Nhưng việc nầy chỉ có Phật mới chứng biết mà thôi.
Bấy giờ ông Xá Lợi Phất nói với Long nữ: Thân gái nhơ uế, có năm điều chướng ngại:
không được làm Phạm thiên, Đế Thích, Ma Vương, Chuyển Luân thánh vương và Phật
thì làm sao cô thành Phật được? Vả lại con đường Phật xa vời phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi cùng mà cô nói tu không bao lâu là chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác làm sao tin được?
Long nữ liền lấy một hạt châu hiến dâng cho đức Phật. Phật nhận.
Long nữ hỏi Trí Tích: Tôi hiến châu, Thế Tôn nhận lấy, việc ấy có mau chăng?
- Mau. Trí Tích đáp!
- Ông hãy lấy sức thần của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau hơn việc đó.
Toàn thể chúng hội liền thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát qua cõi Vô cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bồ tát Trí Tích và Văn Thù làm thinh.
THÂM NGHĨA
Phật nói phẩm Đề Bà Đạt Đa như mở thêm một đại lộ trong hệ tư tưởng tối thượng thừa. Kinh nói: “Nghe phẩm Đề Bà Đạt Đa mà kính tin không nghi hoặc thì người đó không
đọa vào ba đường ác”.
* Nhà vua ham cầu pháp Đại thừa thuở xưa, nay là Phật Thích Ca. Tiên A Tư Đà trong qua khứ nay là Đề Bà Đạt Đa. Qua kinh sử Phật người ta biết nhiều về hành động thù nghịch của ông đối với Phật. Không những một hai đời mà còn lắm nhiều kiếp khác nữa. Ông tạo cơ mưu ám hại giết chết Phật, bày chước độc, phỉ báng thanh danh. Tiền thân Đề Bà Đạt Đa là người xấu, xan lẫn kinh pháp, trao đổi kinh sách với giá quá đắt. Hiện tại ông là người ác manh tâm hảm hại Phật nhiều cách nhiều lần. Căn cứ vào hành động tội ác đối với giáo lý Phật thì Đề Bà Đạt Đa thuộc hạng người “nhất xiển đề” trong Phật pháp. Thế mà Phật thọ ký cho Đề Bà Đạt Đa sẽ thành Phật hiệu Thiên Vương Như Lai….
Thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật đồng nghĩa với thọ ký “nhất xiển đề” thành Phật rồi vậy. Đây là một “giáo điều” cấm kỵ ở kinh điển bất liễu nghĩa trong hệ tư tưởng Tiểu thừa. Đối với hệ tư tưởng liễu nghĩa của Đại thừa thì đây là con đường khoát đạt mà vòi vọi đến tuyệt đỉnh của nền giáo lý “Diệu Pháp Liên Hoa”: “Tất cả mọi người là Phật”. Đây là tư tưởng đặc thù của kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
“Tất cả chúng sanh đều có thân tướng, có phước đức, có trí tuệ Phật” (nhất thiết chúng sanh cụ hữu trí tuệ Như Lai đức tướng) được Phật long trọng tuyên cáo ở thời Kinh Hoa Nghiêm mà đến thời Kinh Pháp Hoa này đức Phật mới tóm kết “bài pháp” dài gần 49 năm thuyết giáo của mình. Toàn bộ tư tưởng giáo lý Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa là “kết luận” cuối cùng của thời pháp mấy mươi năm.
* Nghe phẩm “Đề Bà Đạt Đa” mà kính tin không nghi có nghĩa là mình tin Phật tánh mình, tin khả năng hoán cải của tâm mình và tin khả năng thành Phật của mình. Đã có được đức tin như thế, sớm muộn gì rồi cũng tu hành phát triển cái vốn liếng ấy, rồi cũng có ngày thành Phật. Đã biết mình có bảo châu trong túi áo thì ai dại gì để mình lang thang đói khổ suốt đời.
“Nhất xiển đề” mà còn được thành Phật hà huống Phật tử chúng ta không phải là hạng người “nhất xiển đề”.
Nghe phẩm “Đề Bà Đạt Đa” kính tin thì được phước lớn không đọa vào ba đường ác là do ở chỗ mình tin mình và mình không khinh mình vậy.
Đã là cuộc đời luôn luôn có mâu thuẩn, luôn luôn có mầm đối lập dù trong một cuộc đời, một thể thống nhất. Ngoại cảnh hay tự thân đều cùng chung một quy luật ấy. Có thiện thì có ác, có tốt thì có xấu. Đó là chân lý tất yếu của cuộc đời. Phật thuật chuyện Đề Bà Đạt
Đa xấu với Phật trong quá khứ, ác với Phật trong hiện tại nhằm nhắc cho hàng Phật tử chúng ta về quy luật tất yếu tất nhiên đó. Đừng nghĩ rằng mình thiện thì luôn luôn có cái thiện, điều tốt nó đáp lại ngay cho mình, và đừng có cái xấu, việc không may, người không lành đến với mình. Vấn đề “nhân quả” trong đạo Phật không phải quá giản đơn như người ta tưởng, mà nó vận hành theo nhịp độ thời gian làm cho nhân quả khác thời khác giống và không khư khư cố định. Ta đang chăm sóc cánh đồng lúa rất tốt nhưng có khi phải ăn khoai ăn bắp mà làm công việc đó. Có người hiện tiền thụ hưởng thụ mỹ vị cao lương, lụa là nhung gấm, ai có ngờ mấy năm sau họ trở thành người bần cùng cơ cực.
* Có lửa cao mới biết tuổi vàng, có chở nặng mới biết sức mạnh của con long tượng. Có kẻ ác như Đề Bà Đạt Đa thì sức tinh tấn của Phật trong quá khứ, sức nhẫn nhục của Phật ở hiện tại mới thành tựu đến đỉnh cao: “Ba la mật”. Nếu người biết học đạo, kẻ ác cũng có thể là thầy ta được. Ta sẽ học với họ cái mà ta vĩnh viễn phải chừa.
Danh hiệu của một Bồ tát là biểu trưng, một sự thể hiện đạo đức và là hành vi của Bồ tát ấy. Danh nói lên cái hạnh. Đại Trí Văn Thù biểu trưng “căn bản trí”, thứ trí tiếp nhận chân lý, thể nhập thật tướng một cách vô ngại tự tại. Trí Tích biểu trưng thứ trí “hậu đắc”, đối với thật tướng chưa thể thoải mái tiếp thu. Vì vậy, với giáo lý Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, ngồi nghe không phấn khởi, không có gì tâm đắc cho nên thỉnh cầu đức Phật Đa Bảo hãy trở về nước cũ. Trái lại, Đại Trí Văn Thù thì tâm đắc Diệu Pháp Liên Hoa cho nên thường tuyên giảng cho chúng sanh ở Long cung.
Qua sự kiện đó, ta thấy Kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa là kinh tối thượng tối tôn, nhưng không phải quí với mọi hạng Bồ tát trên cõi đời. Có người ham thích mà cũng có người không thể nghe, không thể hiểu và không thể chấp nhận.
* Biển cả mênh mông bão to sóng lớn mà có thuyền tàu chắc chắn, có thủy thủ tài ba thì vẫn có thể cứu vớt được những ai lâm nguy đắm chìm trong đó. Chúng sanh dù chìm lặn trong sông ái biển mê, mà được Đại Trí Văn Thù giáo hóa cho, cầm lèo bẻ lái cho thì sóng gió vô minh không nhận chìm được mà còn có được tòa sen báu để ngồi. Lại còn có khả năng vọt lên không trung để vượt khỏi những trần tục nhiễm ô dính mắc. Thành quả to lớn do sự hướng dẫn của Đại Trí Văn Thù vẫn còn chưa hết. Tất cả Bồ tát ngồi trên tòa sen lại còn thẳng lên núi Linh Thứu đến chỗ Phật, có nghĩa là nhờ có Đại trí mà đưa con người từ biển mê vượt lên núi giác và ở đây không những diện kiến được Phật hiện tại là Thích Ca Mâu Ni mà còn được ra mắt Phật Đa Bảo Như Lai vô lượng kiếp xa xưa trong quá khứ.
Đa Bảo Như Lai biểu trưng Pháp thân Phật, Thích Ca Mâu Ni biểu trưng ứng thân Phật.
* “Đại trí” là yếu tố căn bản để vượt ra biển khổ “Ta bà”, “Đại trí” cần cho những ai muốn gặp Phật. “Đại trí” là điều kiện cần thiết hướng dẫn lên tận đỉnh cao của giải thoát giác ngộ. Nhờ “Đại trí” mà có cơ hội ra mắt Phật Hiện tại. Nhờ “Đại trí” mà hội ngộ vô số Phật Vị Lai.
* Phật tánh vốn bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, không có giai cấp trong chủng tộc, không có hạn cuộc trong lứa tuổi, không có phân biệt trong giới tính nam nữ; thậm chí trong hạng người mà người ta cho là còn phần nào về “súc sanh tính”; người mà người ta có thể quan niệm không mấy đẹp đẽ, thông minh như nàng Long nữ (rồng cái). Thế nên nếu có ý chí chịu học hỏi, ham tu tập theo sự hướng dẫn của “Đại trí” thì vẫn có khả năng chuyển biến lại và cuối cùng vẫn thành Phật.
Câu chuyện Long nữ tám tuổi thành Phật, đức Phật dạy cho Phật tử chúng ta về chân lý
Phật tánh bình đẳng đó.
* Cuộc đối thoại giữa ông Xá Lợi Phất và Long nữ về “người nữ có 5 điều trở ngại….không được thành Phật…”. Ông Xá Lợi Phất nói đúng, biết đúng chớ chẳng phải sai. Nhưng cái thấy biết đó là cái thấy biết của người căn cơ chủng tánh Nhị thừa, được học thuộc qua những kinh điển bất liễu nghĩa.
* Sự thành Phật mau chóng của Long nữ ở thế giới Vô cấu là một chứng minh cho nền giáo lý Đại Thừa nữ nam bình đẳng và phủ định quyết liệt vế cái thuyết “người nữ có năm điều chướng ngại…” của nguồn tư tưởng “sách lược” ở kinh điển Tiểu thừa.
Tuy nhiên, thực tế khách quan mà nói, đa số phái nam chất cương nghị quả cảm, lý trí nhiều và mạnh bạo hơn phái nữ. Cho nên gọi “chuyển nữ thành nam” có nghĩa là trước khi thành bậc đại giác ngộ cần có chất liệu của một “nam nhân”. Được vậy, để có thái độ dứt khoát giữa hai con đường tình cảm và lý trí, vô minh và giác ngộ, triền phược và giải thoát. Còn cái nam căn hay nữ căn không phải yếu tố quan trọng cản trở sự giải thoát giác ngộ đối với một vị Phật.








PHẨM 13
KHUYẾN TRÌ
Lúc bấy giờ Bồ tát Dược Vương và Bồ tát Đại Nhạo Thuyết cùng hai muôn Bồ tát quyến thuộc, ở trước Phật nói lên lời thề rằng:
Cúi xin Thế Tôn chớ lo, sau Phật diệt độ chúng con sẽ tuân giữ, đọc tụng kinh điển nầy. Chúng sanh trong đời ác về sau, căn lành lần lần ít, kiêu ngạo nhiều thêm, tham lợi háo danh, trồng sâu nghiệp bất thiện, xa lìa giải thoát. Tuy khó giáo hóa như vậy, chúng con sẽ dùng sức nhẫn lớn, trì tụng, biên chép, giảng nói, hy sinh mọi cách thậm chí không tiếc thân mạng để giáo hóa cho họ.

Bấy giờ, trong chúng 500 A La Hớn đã được thọ ký, bạch Phật rằng: Thế Tôn ! chúng con cũng tự thệ nguyện truyền bá rộng kinh nầy ở những nước khác.
Lại có 8.000 ngàn vị hữu học vô học cũng đã được thọ ký rồi, lập lời thề trước Phật: Chúng con cũng ở nơi nước khác nói rộng kinh nầy. Tại vì cõi nước Ta bà phần lớn con người hay che giấu điều ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, hận thù, nịnh hót vì tâm không thành thật.
Lúc bấy giờ bà dì của Phật là Tỳ kheo ni Ma Ha Xà Ba Đề cùng với 6.000 Tỳ kheo ni của hai hạng hữu học và vô học, đồng đứng dậy, chấp tay chiêm ngưỡng tôn nhan Phật, mắt không tạm rời. Thế Tôn mới hỏi: Kiều Đàm Di! Vì cớ nào mà ngó Như Lai với vẻ lo âu như vậy ? Phải chăng vì ta không kêu tên thọ ký cho chúng ngươi ?Này Kiều Đàm Di, ta trước thọ ký tổng quát cho tất cả Thanh Văn, nay ngươi đã muốn thì ta nói trước cho biết, đời sau, ngươi sẽ làm Đại Pháp sư của 68.000 Phật pháp, còn 6.000 Tỳ kheo ni trong
hàng hữu học và vô học, cũng sẽ làm Pháp sư. Lần hồi ngươi sẽ đầy đủ đạo Bồ tát và sẽ được thành Phật, hiệu Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Như Lai. Này Kiều Đàm Di, Phật Hỉ Kiến và 6.000 Bồ tát sẽ tuần tự thọ ký được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là Tỳ kheo Gia Du Đà La thầm nghĩ: Thế Tôn thọ ký cho mọi người sao riêng mình chẳng nói tới tên ? Phật kêu Gia Du Đà La nói: Đời sau, trong năm ngàn vạn ức pháp môn của Phật, ngươi sẽ tu hạnh Bồ tát, làm Đại Pháp sư, lần hồi đầy đủ Phật đạo, rồi ở nơi nước Thiện, sẽ thành Phật hiệu “Cụ túc thiên vạn quang tướng Như Lai”.
Kiều Đàm Di, Gia Du Đà La và tất cả Tỳ kheo ni đều vui mừng hớn hở, cho là được của quí giá chưa từng có.
Sau khi đọc một bài kệ, các Tỳ kheo ni bạch Phật: Thế Tôn, chúng con có thể rông nói kinh nầy ở các nước phương khác không?
Phật bèn ngó 80.000 muôn vạn ức na do tha Bồ tát. Các Bồ tát nầy, toàn là bậc bất thối chuyển và đã được các “tổng tr”, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, chấp tay nghĩ nói trong lòng rằng: “Nếu Thế Tôn dạy, chúng con sẽ như lời Phật mà rộng nói kinh nầy”. Rồi lại nghĩ: “Phật nay làm thinh không dạy, bây giờ chúng con sẽ nói gì đây?”.
Khi ấy, vừa để thuận theo ý Phật, vừa để thỏa mãn ý nguyện của mình, các Bồ tát liền thệ lớn trước Phật: “Thế Tôn, sau Như Lai diệt độ, chúng con sẽ đi khắp mười phương thế giới, khiến chúng sanh biên chép kinh nầy, lãnh giữ, đọc tụng, giải nói ý nghĩa, theo pháp tu hành, sửa điều nghĩ nhớ cho chân chánh, được như thế là toàn nhờ uy lực của Phât. Cúi xin Thế Tôn ở phương khác, xa thấy mà hộ trì!”.
THÂM NGHĨA
Là đệ tử Phật vấn đề Văn – Tư – Tu phải là một tiến trình liên tục không thể thiếu. Cái vạc ba chân, thiếu một không đứng vững. Văn – Tư – Tu thiếu một, sẽ không có quả giải thoát giác ngộ.
Nguyện trì Kinh Pháp Hoa đồng nghĩa với nguyện tu theo Kinh Pháp Hoa, chấp trọ hành trì theo giáo lý Pháp Hoa. Đó là ý nghĩa trì kinh ở mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, trì có nghĩa là xiển dương, là truyền bá, là biên chép, giảng nói cho nhiều người nhập Tri Kiến Phật. Chữ trì ở phẩm nầy gồm ý nghĩa cả hai mặt đó.
Tưừcác phẩm trước được khai thị về Tri kiến Phật. Đại chúng trong hội Pháp Hoa đã nhận thức rõ về “Chánh nhơn thành Phật” của mình: Rằng Tri kiến Phật hay là Phật tánh là cái mà tất cả chúng sanh bình đẳng có. Còn thành Phật hay sẽ thành Phật chỉ là vấn đề thời gian, cũng như sự phát triển sớm muộn của hoa sen trong cánh đồng sen vậy. Điều kiện đất, nước, thời tiết thuận lợi thì sen ở đây mọc sớm, trổ hoa sớm, hoa to và
đẹp. Đất xấu, điều kiện trợ duyên kém thì hoa nở muộn…Dù muộn, nhưng tánh chất trong nhân có sẵn quả: quả ở chính trong nhân của tất cả hoa sen thì không có một mảy may
sai khác.
Trì kinh là Duyên nhơn Phật tánh, là điều kiện kích phát sức nẩy nở làm cho hoa Tri kiến nở nhanh, cũng như đất nước, thời tiết cần cho sự nẩy nở hoa sen vậy.
Những ai là người có khả năng trì kinh tốt nhất ? Có gì khó khăn trở ngại trong việc trì kinh ?
Có bốn hạng người có khả năng làm việc đó:
1. Hàng Đại Bồ tát (những người giàu đức tánh vô ngã vị tha)
2. Bậc A La Hớn (những người trừ sạch nhân hữu lậu trong ba cõi)
3. Hàng hữu học vô học (những bậc nhập lưu, đi theo chiều hướng giác ngộ giải thoát)
Hàng Tỳ kheo ni (những người quyết tâm tu giải thoát)
Trì kinh với nghĩa tiêu cực thì tất cả giống nhau, bốn hạng người có cùng ý chí ham tu hiếu học đối với Kinh Pháp Hoa.
Nhưng về mặt tích cực, phát nguyện trì kinh phải có điều kiện:
- Phải có nhiệt tình, vô ngã vị tha
- Phải có khả năng nghị lực
- Phải có trình độ kiến thức nội minh
- Phải có biện tài chinh phục v.v…
Bởi lẽ địa bàn hoạt động truyền bá Kinh Pháp Hoa không phải ở lãnh vực nào cũng thuận lợi, ở quốc độ nào cũng dễ dàng.
Ta hãy nghe về tinh thần bất khuất chuẩn bị chịu đựng sự khó khăn của những Bồ tát tự
nguyện trì Kinh Pháp Hoa ở cõi Ta bà, qua bài kệ dưới đây:
Cúi mong Phật chớ lo Sau Phật diệt độ rồi Trong đời ác ghê sợ Chúng con sẽ rộng nói Dầu có người không trí Dùng lời ác mắng rủa…. Cùng gậy dao đập chém Chúng con đều sẽ nhẫn Dầu Tỳ kheo đời ác
Trí tà dâm vạy méo Chưa chứng, xưng đã chứng Kiêu căng đầy trong lòng Hoặc có hạng “A Nhã”
Y, nạp xem ra Phết Tự cho hành nhân đạo Xem nhẹ người thế gian Vì lòng tham lợi dưỡng Thuyết pháp cho bạch y Với ý được cung kính Như lục thông La Hớn Lòng hạng ấy chứa ác Thường nghĩ việc thế tục Giả danh A luyện nhã Bới sai lầm chúng con Mà nói những lời nầy: Các thầy Tỳ kheo ấy
Vì lòng tham lợi dưỡng Luận giả theo ngoại đạo Tự tạo kinh điển nầy
Láo dối người thế gian Hoặc vì cầu danh tiếng Mà phân biệt kinh này
Hoặc thường trong đại chúng Muốn nói xấu chúng con Hướng nhà vua, quan lớn Bà La Môn nhà giàu
Cùng các Tỳ kheo khác Mà phỉ báng chúng con Bảo chúng con tà kiến Luận giải theo ngoại đạo Vì lòng kính tin Phật Chúng con đều sẽ nhẫn Dầu họ có khinh khi
Tự xưng là Phật sống Trước lời kiêu ngạo ấy Chúng con cũng sẽ nhẫn Trong đời ác kiếp trược Có nhiều sự sợ hãi
Các quỉ nhập thân người Mắng rủa nhục chúng con, Chúng con kính tin Phật, Sẽ mang giáp nhẫn nhục Để giảng nói kinh nầy,
Chúng con sẽ nhẫn mọi khó Thân mạng không hề tiếc Chỉ tiếc vô thượng đạo Chúng con trong đời sau Sẽ giữ gìn lời Phật
Thế Tôn sẽ tự biết
Tỳ kheo đời ác trược Không biết Phật phương tiện Tùy nghi mà thuyết pháp Châu mày dùng miệng ác
Lúc lúc đuổi chúng con Xa lìa nơi chùa tháp Các việc ác như thế Nhớ lời Phật dạy bảo Chúng con sẽ nhẫn hết Nơi thành ấp, tụ lạc Nếu có người cầu pháp Chúng con đều đến nơi
Nói pháp của Phật truyền
Chúng con là sứ Phật Ở trong chúng không sợ Vì thiện sẽ nói pháp
Xin Phật hãy an lòng Nay đứng trước Thế Tôn Cùng mười phương chư Phật Chúng con có lời thệ này Phật ắt tự rõ lòng con.
Sự khó khăn của Bồ tát trì kinh Pháp Hoa ở cõi Ta bà như thế đấy. Tìm hiểu nguyên nhân ta thấy:
1. Phát xuất từ hàng Tỳ kheo được mệnh danh là Tăng thượng mạn. Họ tự bảo thủ quả vị
La Hớn cho là cứu cánh Niết bàn, không có ý mong cầu thành Phật. Từ mặc cảm tự ti nầy họ chống đối phỉ báng Kinh Pháp Hoa.
2. Xuất pháp từ lòng Tỳ kheo mưu cầu lợi dưỡng; hạng người nầy cố chấp tự tôn, cho rằng mình, chỉ có mình là người tu chơn đạo khả kính trên thế gian nầy. Còn tất cả người thế gian không có ai có thể đạt đến cái chơn đạo của họ tu chứng.
Trong khi nền giáo lý Pháp Hoa chủ trương khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri kiến; tất cả chúng sanh là Phật sẽ thành. Quả là một tạc đạn bắn ra sụp đổ hai tòa nhà bảo thủ tự ti và cố chấp tự tôn của hai hạng người tiêu nha bại chủng ấy. Do đó, họ công kích,
phỉ báng những Bồ tát trì Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở cõi Ta bà. Vì thế, phát nguyện trì kinh ở cõi Ta bà chỉ có Bồ tát Đại Dược Vương, vua của y dược sĩ, có khả năng trị bệnh tà kiến tự tôn, tự ti của thế nhân. Và Bồ tát Đại Nhạo Thuyết, nhà biện tài vô ngại, có khả năng tồi tà phụ chánh, cầm đầu thì việc làm mới thành tựu tốt đẹp. Nói rõ ra là muốn
xiển dương truyền bá kinh Pháp Hoa ở vào đời ngũ trược nầy phải là người có những đức tánh của một Bồ tát vô ngã, vị tha, cương nghị, quả cảm, thông minh, trong đó nội minh phải vững vàng, có biện tài, có khả năng thuyết phục, giải đáp được những chấp mắc sai lầm v.v…thì mới đủ điều kiện triển khai truyền bá Kinh Pháp Hoa; nếu không có những yếu tố cần thiết đó thì khó mà trì kinh ở cõi đời lắm người “tự ti”, lắm người “tự tôn” vì mưu cầu hư danh huyễn lợi nầy.
Hàng Đại A La Hớn, những người hữu học vô học, các hàng Tỳ kheo ni, trước Phật có pháp nguyện trì kinh; nhưng không ở trong hàng ngũ của Bồ tát Đại Dược Vương và Đại Nhạo Thuyết thì xin đi nước khác mà trì, vì ở nước khác sẽ được an lành hơn, không có đối lập nguy hiểm như ở cõi Ta bà. Biện tài không giải đáp nổi nghĩa lý thậm thâm; trí
lực và pháp lực không đủ khả năng trị liệu các bệnh tà kiến, biên kiến, kiến thủ của người
đời thì nên đi “cõi khác” mà truyền bá kinh Pháp Hoa vậy.





PHẨM 14
AN LẠC HẠNH
Bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Thế Tôn ! Các Bồ tát này làm việc khó có là phát nguyện hộ trì, đọc tụng, giảng kinh Pháp Hoa trong đời ác trược về sau. Thế Tôn ! Làm thế nào mà các vị Bồ tát này nói được kinh Pháp Hoa trong đời ác trược ? Phật bảo Văn Thù: Nếu Bồ tát Ma ha tát, ở đời ác trược, muốn nói kinh nầy thì nên an trú vào 4 pháp sau đây:

1. Hành xứ: Bồ tát hành xứ là đứng vững trên đất nhẫn nhục, dịu hòa thuận thảo mà không nóng nảy, tâm cũng chẳng sợ sệt, lại ở trong muôn vật mà lòng không xao xuyến, xem muôn vật trống không như “thật tướng”, không nghĩ ngợi gì mà cũng không phân biệt.
2. Bất thân cận xứ: Bồ tát không gần gũi:
- Hạng người quyền thế (vua, con vua, quan lớn, quan nhỏ).
- Hạng người tu theo ngoại đạo (Phạm chí, Ni kiền tử…).
- Hạng văn nhân, thi sĩ của thế tục
- Các phái Lộ-già-da-đà, Nghịch lộ già-da-đà.
- Hạng người chơi hung, lấy sự đâm chém, đánh đá làm thích.
- Bọn Chiên đà la.
- Hạng người làm sai giới luật như nuôi heo, dê, gà, chó, đi săn, chài lưới.
Những người trong các giới ấy, nếu có lúc họ đến với mình, thì Bồ tát vì họ mà giảng dạy cho họ nghe, lòng đừng hy vọng mong cầu một điều gì.
Cũng không nên làm thân với những người cầu được làm Thanh Văn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, cũng không nên hỏi chuyện họ. Dầu ở trong phòng, dầu lúc đang đi kinh hành, dầu lúc ở giảng đường, bất luận ở đâu, không nên cùng họ đứng cùng một chỗ. Nếu gặp lúc họ đến với mình thì tùy nghi mà thuyết pháp, lòng đừng hy vọng mong cầu một điều gì.
Văn Thù Sư Lợi ! Bồ tát lại còn không nên ngó thân người nữ mà sanh lòng ham muốn rồi nói pháp cho họ nghe, cũng đừng ưa thấy nữ nhân. Khi vào nhà người, đừng nói chuyện với trẻ gái nhỏ, con gái lớn và đàn bà góa. Cũng không nên gần những người “bất nam”. Đừng một mình vào nhà người. Nếu có duyên cớ cần phải vào nhà người một mình, thì phải giữ một tâm niệm Phật.
Khi nói pháp cho đàn bà, con gái nghe, đừng cười hở răng, đừng bày hông, ngực. Thậm chí đối với người vì pháp mà đến, cũng không nên gần gũi thân mật với họ, hà huống là đối những người đến vì chuyện khác.
Không nên thích nuôi những đệ tử ít tuổi, những sa di trẻ con. Cũng không nên ưa dùng chúng một thầy, mà nên ưa ngồi thiền ở chỗ vắng lặng, sửa nắm tâm mình.
Đó là “Bất thân cận xứ” thứ nhất của Bồ tát.
Lại nữa, Bồ tát phải thấy muôn vật đều “không” như “thật tướng”, không điên đảo, không động, không thối, như hư không, thấy muôn vật không có thực tánh, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, vô danh, vô tướng, thực không có gì cả, vô lượng vô biên, vô ngại, vô chướng: thấy những danh từ lời nói dùng để chỉ vật nầy sự nọ, đều là trái với chân lý
(ngữ ngôn đọa đoạn), chỉ vì cái nguyên nhân đảo điên nên mới thế này thế nọ. Phải vui xét cái tướng của vạn vật là như thế.
Đó là “Bất thân cận xứ” thứ nhì của Bồ tát.
3. An lạc hạnh: Phật nói tiếp: Sau Như Lai diệt độ, trong đời mạt pháp muốn nói kinh nầy, Bồ tát phải ở yên trong “An lạc hạnh”. Nghĩa là, khi nói cũng như khi đọc kinh nầy, chẳng nên nói đến sự sai quấy của người và của kinh điển, cũng chẳng nên có lòng khinh rẻ, kiêu ngạo đối với các Pháp sư, chẳng nên nói đến sự tốt xấu, hay dở của người khác. Đối với hàng Thanh Văn, chẳng nên kêu đích danh mà vạch sự sai lầm, gàn dở của họ, cũng không nên kêu đích danh mà khen tặng cái hay của họ, lại cũng không sanh tâm thù hiềm. Khéo sửa lòng cho được an lạc như vậy thì không làm nghịch ý người nghe. Còn
có ai vấn nạn thì đừng giải đáp bằng pháp tiểu thừa, mà bằng pháp đại thừa, để cho người hỏi được Chánh giác.
Bồ tát muốn thuyết pháp phải giữ lòng an vui, trong sạch, thân thể phải tắm rửa cho sạch, mặc y mới. Nói tóm là trong ngoài phải thanh tịnh, nhiên hậu mới nên ngồi pháp tòa, tùy lời hỏi của người mà giảng. Đối với người vì Đạo thì đem diệu nghĩa ra mà dạy, mặt mày hòa nhã. Đối với người vấn nạn, thì tùy nghĩa mà đáp, khi thì dùng nhân duyên, khi thì dùng thí dụ mà diễn mà giải rạch ròi, để lần hồi dẫn dắt họ vào đường sáng (Phật Đạo). Tự mình, phải trừ mọi ý niệm ỷ lại, mọi tư tưởng lười biếng, xa lìa mọi lo nghĩ, buồn rầu. Mở rộng lòng từ, ngày đêm nói pháp để mở mắt cho chúng sanh mà không bao giờ mong cầu sự cúng dường, chỉ một lòng tưởng nhớ đến việc lấy pháp làm nhân duyên để thành Phật đạo, khiến người nghe cũng cùng một tâm niệm.
Trong thời mạt pháp, Bồ tát nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì không nên chứa chấp sự ganh ghét, tà vạy, khinh khi người học Phật, không làm cho hàng tu hành chán nản, cũng không nên đem Đạo Pháp ra bàn chơi, tranh cãi. Phải:
- Đối với tất cả chúng sanh, khởi lòng đại bi.
- Đối với chư Như Lai, sanh lòng kính trọng như Cha lành.
- Đối với Bồ tát, sanh lòng tôn kính như Thầy.
- Đối với mười phương Bồ tát, sanh lòng cung kính cúng dường.
Thực hiện đầy đủ pháp “an lạc” thứ ba nầy, thì khi thuyết kinh, không làm cho người nghe hoang mang, được người cùng theo mình mà đọc tụng, còn đại chúng sẽ tới nghe lãnh lời kinh, lãnh rồi nắm giữ, giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ chép và khiến người cùng chép.
4. Phát Đại bi tâm: Lại nữa này Văn Thù ! Trong đời mạt pháp, ai là người muốn nắm giữ kinh Pháp Hoa, phải sanh đại bi tâm đối với hàng xuất gia và tại gia. Đối với người chẳng phải là Bồ tát (chưa tu hạnh vị tha), cũng phát đại bi tâm mà nghĩ như vầy:
Như Lai phương tiện tùy nghi thuyết pháp, mà họ lại chẳng nghe, chẳng biết, chẳng tỉnh, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giữ, thật là bất lợi vô cùng. Ngày nào ta được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyện sẽ dùng thần lực trí lực mà dắt dẫn họ vào yên trong Đạo Pháp.
Đó là “an lạc” thứ tư.
Như Lai diệt độ rồi, Bồ tát nào thành tựu được pháp thứ tư nầy thì khi thuyết kinh Pháp Hoa, không bao giờ có sự sai lầm, mất mát. Người thế gian từ vua tới dân, sẽ cung kính cúng dường, trong hư không Chư Thiên sẽ luôn luôn hộ vệ cho. Tại sao thế ? Vì kinh nầy được chư Phật ba đời bảo hộ. Này Văn Thù, trong vô lượng cõi nước, nghe được tên kinh nầy còn chưa có, hà huống được thấy, được thọ trì, đọc tụng. Thí như nhà vua dẹp giặc xong, muốn thưởng công tướng sĩ, có thể cấp cho đất cát, y phục, ngọc ngà, châu báu, xe ngựa, nô tỳ, nhưng không bao giờ cho viên ngọc vô giá trên mão của vua. Như Lai cũng thế. Nhờ sức mạnh của thiền định và trí tuệ, Như Lai làm vua “nước Pháp”, thống ngự ba cõi. Vì ma vương không hàng phục nên Như Lai mới dùng Hiền Thánh làm tướng để
đánh ma vương. Đối với các bậc hữu công trong trận chiến này, Pháp vương Như Lai ban cho tiền của: thiền định, giải thoát, vô lậu. Thành quách: niết bàn. Tạm nói là diệt độ, để dẫn dắt tâm họ, khiến mọi người hoan hỉ, nhưng chưa vì họ mà nói kinh Pháp Hoa. Nhưng khi binh sĩ lập được công to, nhà vua sẽ cho viên ngọc vô giá. Như Lai cũng thế, thấy đội công Hiền Thánh đã lập được đại công chiến thắng ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma, đã diệt ba độc, ra khỏi ba cõi phá lưới ma, nên ban cho kinh Pháp Hoa là lời thuyết cao cả nhất của Như Lai.
THÂM NGHĨA
An Lạc Hạnh là việc làm đem lại sự an vui. Đạo Phật dạy tu hành nhằm đem lại cho mọi người sự an vui trong cuộc sống. Chớ Niết bàn không phải là một “cảnh giới” xa xăm nào khác.
Ở phẩm kinh nầy, Phật dạy cho các Bồ tát, cho những ai phát tâm nắm giữ, duy trì, truyền bá, giảng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa những phương cách đem lại cho mình, cho người nghe đều được sự “an lạc”.
Để cho sự thọ trì truyền bá giảng nói được trong sáng, cảm thông sâu sắc giữa người nói và người nghe, một Pháp sư Pháp Hoa cần lưu tâm bốn điểm. Thực hiện bốn điều nầy không sai phạm thì hành giả Pháp Hoa có được sự lợi ích “an lạc” trọn vẹn. Bốn điều đó là:
- Hành xứ
- Thân cận xứ
- An lạc hạnh
- Phát đại từ bi tâm
1. Hành xứ là những việc làm hàng ngày trong cuộc sống. Trong cuộc sống Bồ tát thường vận dụng trí tuệ, tư duy, quán chiếu vạn Pháp trước mắt, để thể nhập “thật tướng” của các Pháp là “vô tướng”. Đối với nền giáo lý liễu nghĩa thượng thừa thậm thâm, Bồ tát tu học, thọ trì, truyền bá không hề nhàm mỏi, không dấy niệm kinh nghi, khéo nhẫn nhục nhu hòa, không chao đảo thối thất trước nghịch cảnh, không nóng vội
trước khó khăn. Bồ tát vận dụng căn bản trí quán sát vạn pháp qua cái nhìn trực giác “vô phân biệt”, un đúc thành thứ “Tri kiến vô kiến”, xa lìa tánh “biến kế chấp” thường tình, vượt ra ý thức phân biệt “Tri kiến lập tri”.
2. Thân cận xứ là tiêu chuẩn qui ước của Bồ tát, của Pháp sư Pháp Hoa trên con đường tự độ hóa tha. Thân cận xứ có hai: một là thân cận. Hai là không thân cận.
* Nên thân cận là chỗ mà Bồ tát có thể thân cận và những việc mà Bồ tát nên làm. Nói rõ ra là Bồ tát nên luôn luôn quán niệm tư duy: “Nhất thiết Pháp không”. “Nhất thiết Pháp như thật tướng”. Bồ tát nhận thức rằng: tất cả pháp từ xưa đến nay rời ngoài ngôn ngữ, vượt ra văn tự, tuyệt đường nghĩ ngợi so lường, rốt ráo bình đẳng, thanh tịnh bản nhiên
“…Chưa từng có một pháp Không do nhân duyên sanh Thế nên tất cả pháp
Không pháp nào chẳng không”.
Bồ tát thường quán sát vạn pháp với cái tánh Như thị của chính nó. Rằng: “Tướng của nó như vậy”
“Tánh của nó như vậy”
“Tướng của nó như vậy” “Thể của nó như vậy” “Tác của nó như vậy”
“Lực của nó như vậy” “Nhơn của nó như vậy” “Duyên của nó như vậy” “Quả của nó như vậy” “Báo của nó như vậy”
Và trước sau, từ đầu đến cuối nó vốn “như vậy”.
Đó là những chỗ nên thân cận của Bồ tát.
* Không nên thân cận là những chỗ, những người và những việc mà Bồ tát nên tránh:
- Không nên thân cận người có quyền thế (vua, con vua, các quan lớn, quan nhỏ).
- Không nên thân cận với những bọn Phạm chí hảo hán, bọn Ni kiền tử chủ trương lỏa hình).
- Không nên thân cận hàng văn nhân, thi sĩ không lành mạnh.
- Không nên thân cận với hạng ngoại đạo “thuận thế” và “nghịch thế”.
- Không nên thân cận những người tà thuật, biến hóa huyển hoặc.
- Không nên thân cận những người chỉ mong cầu quả vị Thanh Văn (Tiểu căn, tiểu trí, tự độ)
- Không nên thân cận với hàng quả nữ, xử nữ và tiểu nữ.
- Không nên thân cận với trẻ nít và sa di ít tuổi.
Trường hợp chẳng đặng đừng, phải tiếp xúc với thân cnậ với những người trên, vì giảng nói kinh pháp cho họ nghe, lòng đừng hy vọng cậy trông nơi họ một điều gì.
3. An lạc hạnh: Bồ tát trì kinh Pháp Hoa phải giữ tâm khinh an, thanh thoát, hoan hỉ
trong lúc giảng nói, định tĩnh khi thọ trì đọc tụng và tự cảnh tĩnh!
- Không nói lỗi lầm của người khác và của kinh điển.
- Không khinh khi ngạo mạn với những người tu hành khác.
- Không sanh tâm oán thù hiềm khích với mọi người.
- Không chê bai hạnh tu của hàng Thanh Văn, Duyên Giác khiến cho mất niềm tin trên
đường tiến lên chánh đạo.
- Nếu có người vấn nạn không giải đáp bằng pháp Tiểu thừa, phải hướng dẫn họ pháp Đại thừa, chỉ cho họ đi vào con đường “Nhất thiết chủng trí”. Đối với tất cả chúng sanh khởi lòng đại bi. Với chư Như Lai sanh lòng kính trọng như đấng cha lành. Với Bồ tát tôn kính như Thầy. Nên khởi lòng cung kính cúng dường Bồ tát trong mười phương.
Bồ tát thực hiện đầy đủ pháp “an lạc” thứ ba nầy, khi thuyết giảng kinh người nghe không ngờ vực hoang mang. Đại chúng sẽ hoan hỉ tiếp thu lời kinh ý Phật, lãnh hội nắm giữ rồi sẽ đọc, đọc rồi sẽ thuyết, thuyết rồi sẽ biên chép và khuyến khích nhiều người cùng thọ trì, đọc tụng, biên chép để lưu bố rộng nhiều.
4. Phát khởi tâm Đại từ bi:
Bồ tát “trì” kinh Pháp Hoa vào thời mạt pháp, đối với hạng xuất gia hay tại gia nên pháp khởi lòng đại bi. Đối với hạng người không phải Bồ tát, nên sanh lòng đại bi. Bồ tát nên nghĩ rằng: “Như Lai vô số phương tiện tùy nghi nói pháp, thế mà họ không biết, không nghe, không tỉnh ngộ, không hiểu, không tin, không học hỏi thật là mất lợi rất nhiều. Dù vậy ngày thành Phật, ta sẽ vận dụng sức trí tuệ dẫn dắt họ vào an trụ nơi pháp Đại thừa của Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
Đây là pháp “an lạc” thứ tư của Bồ tát.
Sau Như Lai diệt độ, Bồ tát thành tựu viên mãn “An lạc hạnh” thì lúc thuyết kinh sẽ không phạm phải sai lầm, người nghe sẽ đẹp lòng mà cung kính, chư thiên hoan hỉ hộ vệ cho.
* Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, ở vô lượng cõi nước chưa hề nghe được tên kinh, còn nói chi việc thấy kinh và đọc tụng thọ trì. Ví như Đại quốc vương, sai binh tướng
xuất quân dẹp giặc, dẹp giặc xong, để thưởng công cho tướng sĩ ba quân nhà vua có thể cấp cho nhà cửa, ruộng vườn y phục, vàng bạc, ngựa xe v.v..nhưng không bao giờ cho viên minh châu trên mão của nhà vua. Cho đến khi chiến sĩ lập được chiến công vô cùng hiển hách, nhà vua lúc bấy giờ mới đem viên minh châu trên mão của mình mà ban tặng. Đấy là một sự kiện cả hoàng tộc và thần dân kinh dị sững sờ. Như Lai cũng vậy. Nhờ sức mạnh thiền định và trí tuệ, Như Lai làm “vua nước pháp điều phục và chế ngự ba cõi vì hàng phục ma quân, Như Lai dùng Hiền, Thánh làm tướng binh để đánh dẹp. Với các bậc hữu công trong trận chiến, Pháp Vương Như Lai ban cho của báu. Thiền định, giải thoát, căn, lực, vô lậu pháp và cả thành đô Niết bàn. Với ngần ấy “Thánh Tài” mọi người rất bằng lòng và hoan hỉ. Như Lai chưa vì họ mà nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Cho đến khi thấy đội quân Hiền, Thánh đã lập được công to oanh liệt, quét sạch bọn ma quân ngũ ấm, ma phiền não, ma thiên và ma tử; triệt tiêu tam độc, ra khỏi ba cõi. Bấy
giờ Như Lai vui mừng, mới đem kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa ra mà trao dạy.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là tạng bí yếu của Như Lai. Đối với kinh, kinh Diệu Pháp Liên
Hoa là “thừa tối thượng”.






PHẨM 15
TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT
Lúc bấy giờ, các Bồ tát, nguyên từ các nước phương khác lại, đông hơn cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng, đồng đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Thế Tôn! Nếu Thế Tôn nhận lời, chúng con nguyện, sau khi Phật diệt độ, sẽ rộng nói kinh Pháp Hoa ở thế giới Ta bà, để gian tăng tinh tấn và hộ trì những người đọc tụng, sao chép, cúng dường kinh này”.

Phật đáp: “Thôi khỏi. Này Thiện nam tử ! Không cần các con hộ trì kinh nầy. Vì sao ? Vì thế giới Ta bà của ta tự có Bồ tát đông như cát của sáu muôn sông Hằng. Những Bồ tát và quyến thuộc ấy, sau khi ta diệt độ, sẽ có khả năng giữ gìn, đọc tụng, rộng nói kinh này”.
Lúc Phật nói lời này, trong ba ngàn đại thiên quốc độ ở thế giới Ta bà, đất đều rung nứt, và từ trong lòng đất, vô lượng ngàn muôn ức Bồ tát đồng thời vọt lên. Các Bồ tát ấy, thân như vàng ròng, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, sáng ánh khôn lường, trước kia trú trong hư không của chỗ thấp nhất ở thế giới Ta bà, nay nghe tiếng của Phật Thích Ca, nên từ chỗ thấp ấy mà xuất hiện đến. Mỗi mỗi Bồ tát đều là bậc thủ lãnh dẫn đường cho đại chúng
và mỗi vị đều có hoặc sáu, hoặc năm, bốn, ba, hai, một muôn hằng sa quyến thuộc, hoặc một hằng sa, nửa hăng sa, một phần hằng sa hay một phần trong ngàn ức na do tha phần hằng sa, hoặc từ ngàn muôn ức na do tha sụt lần xuống cho tới một muôn, một ngàn, một trăm, mười, năm, bốn, ba, hai, một quyến thuộc đệ tử. Lại cũng có những Bồ tát chỉ có một mình, thích hạnh “viễn ly”. Tất cả các Bồ tát ấy đông vô số kể.
Từ dưới đất vọt lên rồi, Các Bồ tát ấy đều đến ngọn tháp bảy báu nhiệm mầu trong hư không, là chỗ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca đang ngự, vập đầu xuống chân làm lễ, rồi lại dến tòa sư tử, dưới cột báu, chỗ Phật ngồi mà làm lễ. Xong, các vị đi quanh bên mặt Phật ba vòng, rồi chấp tay chiêm ngưỡng Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca.
Từ lúc các Bồ tát xuất hiện cho đến khi làm lễ xưng tán Phật, một khoảng thời gian trôi qua, lâu năm mươi tiểu kiếp.
Bấy giờ đức Thích Ca ngồi yên nín lặng, bốn hạng đệ tử cũng đều nín lặng. Nhờ sức thần Phật, đại chúng thấy 50 tiểu kiếp trôi qua như nửa ngày. Cùng một lúc và cũng nhờ sức thần Phật, bốn chúng thấy Bồ tát đầy khắp hư không và vô lượng ngàn muôn ức quốc độ.
Trong số Bồ tát ấy, có bốn vị đứng đầu:
1. Thượng hạnh
2. Vô biên hạnh
3. Tịnh hạnh
4. An lập hạnh.
Đồng chấp tay nhìn đức Thích Ca, bốn vị kính hỏi: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn có được ít bệnh, ít buồn và được an vui không ? Những người đáng độ, có thọ giáo dễ không ? Họ không có làm gì Thế Tôn mệt nhọc chứ ?”
Thế Tôn nói: Đúng thế ! Đúng thế ! Này các thiện nam tử, Như Lai an vui, ít bệnh, ít buồn, các hàng chúng sanh dễ mà hóa độ, không có mệt nhọc. Tại sao thế ? Vì những chúng sanh ấy, từ trước đến nay, đời đời thường được ta hóa độ cho và chính họ cũng đã cung kính tôn trọng chư Phật trong thời quá khứ và trồng các gốc lành. Các chúng sanh ấy, thấy thân ta, nghe tiếng ta nói, là liền tin lãnh và nhập vào tuệ Phật, trừ những người trước đã tu tập theo Tiểu thừa. Đối với hạng này, ta cũng sẽ khiến cho nghe được kinh Diệu Pháp Liên Hoa và đi vào tuệ Phật.
Lúc bấy giờ Bồ tát Di Lặc cùng tám ngàn hằng sa Bồ tát trong pháp hội đều thầm lấy làm lạ việc vô số Bồ tát đã từ đất vọt lên. Muốn giải nghi cho tất cả và cho riêng mình, Bồ tát Di Lặc bạch Phật: “Nguyện Thế Tôn cho chúng con biết, vô lượng Bồ tát này từ đâu mà đến và nhóm họp để làm gì ?Ai đã thuyết pháp giáo hóa cho các vị ? Các vị đã theo ai mà pháp tâm, đã thọ trì và thực hành kinh điển thế nào? Lại tu tập Phật đạo nào mà sức trí thần thông to lớn như thế ? Bạch Thế Tôn, chúng con chưa từng thấy một việc như vậy. Con thường đi qua nhiều nước, gặp gỡ nhiều người, chưa hề biết một vị trong số Bồ tát ấy. Vậy kính xin Thế Tôn nói cho con biết các Bồ tát ấy ở nước nào đến mà hốt nhiên từ đất vọt lên”.
Cùng lúc ấy, các phân thân Phật Thích Ca từ vô lượng muôn ngàn ức cõi khác đồng đến ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, dưới các cội cây báu trong tám phương. Những thị giả của các phân thân cùng bạch hỏi về lai lịch của các Bồ tát từ đất vọt lên. Chư phân thân Phật đáp: “Bồ tát Di Lặc đã hỏi Phật Thích Ca. Phật sẽ đáp. Vậy hãy chờ !.
Khi ấy Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ tát Di Lặc: “Hay thay lời hỏi của Di Lặc ! Ta sẽ tuyên bày trí tuệ, thần thông, sức mạnh và uy thế của chư Phật, vậy hãy một lòng tinh tấn nghe ta nói”.
Sau khi nói một bài kệ lập lại lời vừa nói, Thế Tôn kêu Bồ tát Di Lặc nói: Những Bồ tát đông vô số kể và từ đất vọt lên, đều do ta giáo hóa chỉ dẫn, sau khi ta đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tất cả đều là bậc đã điều phục tâm mình, lòng sanh ý đạo, và ở trong hư không phía dưới thế giới Ta bà. Tất cả đã từng đọc tụng thông suốt kinh điển, phân biệt trong chỗ nghĩ suy và sửa cho ngay thẳng những nhớ tưởng của mình. Này Di Lặc, các Bồ tát ấy không thích ở chỗ đông người ồn ào, mà thường ưa ở nơi vắng lặng, siêng tu tinh tấn, chưa hề ngơi nghỉ, lại cũng không dừng bước ở cấp Nhân, Thiên mà thường thích được trí tuệ thâm sâu, không còn vướng phải một chướng ngại nào. Lại
cũng thường vui nơi pháp Phật, một lòng tinh tấn cầu tuệ Vô Thượng.
Bồ tát Di Lặc và vô số Bồ tát, lòng sanh nghi hoặc, tự hỏi: “Làm thế nào trong khoảng thời gian ngắn mà Thế Tôn giáo hóa được một số Bồ tát đông như thế ?”. Nghĩ xong bèn bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, từ ngày còn là Thế tử bỏ cung điện ra đi rồi đến khi ngồi dưới cội bồ đề đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, từ ấy đến nay, vừa hơn bốn mươi năm, vậy làm thế nào trong khoảng thời gian ngắn ấy Thế Tôn lại giáo hóa cho vô lượng vô biên Bồ tát ấy được ? Vì muốn thành tựu như Bồ tát ấy phải là người trong ngàn muôn ức kiếp, trồng các căn lành ở vô lượng vô biên nước Phật và thường tu phạm hạnh. Thế Tôn thì thành đạo đến nay chưa bao lâu, các Bồ tát kia thì phải tu hành trong vô lượng kiếp mới được thần thông lớn như vậy. Thế thì làm sao hiểu được câu chuyện cha trẻ con già nầy ? Riêng chúng con thì một lòng tin Phật, vì Phật không bao giờ nói ngoa, nhưng các Bồ tát mới pháp tâm tu hành, sau Phật diệt độ, có thể không tin lời Phật dạy. Vậy
kính xin Thế Tôn giải nghi cho hàng mới phát tâm này, để họ khỏi phải đọa vào nẻo ác.
THÂM NGHĨA
Để đưcợ sáng nghĩa hơn, ta có thể gọi tiểu đề của phẩm kinh này là Bồ tát tùng địa dũng xuất. Nôi dung phẩm kinh nói về sự kiện lạ lùng: Bồ tát từ dưới đất hiện ra.
Chữ địa ở đây nên hiểu là tâm địa, là cõi đất tâm của chính con người. Bồ tát bổn nguyện, bổn hạnh, bổn thệ đều pháp xuất từ tâm địa mà ra, chớ không do ở tha nhân hay tha phương mà đến.
Phật từ chối hảo ý giúp đỡ của chư Bồ tát ở mười phương, đông hơn số cát của tám con sông Hằng. Điều đó cho thấy ý nghĩa: ” Cầu người không bằng cầu ở mình”. Tha lực sẽ vô ích, nếu không có sự cố gắng của tự lực.
Phật giới thiệu cõi Ta bà có Bồ tát đông bằng số cát của sáu muôn sông hằng và vô số quyến thuộc đủ sức hộ trì, đọc tụng, giảng nói kinh Pháp Hoa, sau Phật diệt độ. Điều này dạy cho chúng ta hãy dựa vào tự lực phát huy cái khả năng trí tuệ nghị lực của chính ta. Tự lực là chánh nhơn, quyết định để cải tạo và xây dựng chơn hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Ở đây cho sự giải thoát giác ngộ của mình. Sự giúp đỡ của tha nhân dù nhiệt thành đến đâu vẫn là hữu hạn. Chỉ có sự cố gắng của sức mình mới đạt
đến mục đích, đáp ứng thỏa mãn trọn vẹn ý chí hoài bảo của mình. Con số Bồ tát tình nguyện giúp đỡ hộ trì chỉ ngang số cát của tám con sông Hằng thôi. Trong khi đó, Phật cho biết số Bồ tát tự có ở cõi Ta bà nhiều như số cát của sáu muôn sông Hằng và mỗi Bồ tát còn có thêm vô số quyến thuộc. Cán cân lực lượng nghiêng về bên tự lực gấp mấy vạn lần.
Nếu tự mê mờ không biết mình có tâm Bồ tát thì hạnh Bồ tát dù có sẵn ở nôi tâm, cũng không có môi trường xuất hiện. Nếu có tự giác, biết mình có tâm Bồ tát, thì Bồ tát hạnh
tùy đó mà xuất hiện ra. Đó là chỗ kinh nói: Phật vừa giới thiệu cõi Ta Bà có Bồ tát thì Bồ
tát từ Đất hàng hàng xuất hiện.
“Kim sanh tiệm tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nơn” của Tổ Quy Sơn dạy, phát xuất từ ý kinh nầy. Đừng mơ mộng viễn vông. Thực tế, bạn phải định đoạt số phận bạn, chớ không do ai khác. Bạn phải phát huy cái tinh thần độc lập tự do ở trong bạn, cái Phật tánh vốn có, cái tự tánh Niết bàn ở trong bạn. Nó là của chính bạn đó.
- Có độc lập tự do về kinh tế, chính trị mới có chơn hạnh phúc cho một dân tộc.
- Có độc lập tự do về kiến trúc và tài chánh, mới có chơn hạnh phúc cho vợ chồng trẻ xây tổ ấm cho một gia đình.
- Có độc lập tự do trong tự lực cánh sinh, mới có chơn hạnh phúc cho người có chí vá trời lấp biển.
- Có độc lập tự do trong giác ngộ giải thoát, mới có chơn hạnh phúc cho người quyết tâm
đi con đường Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Hai mươi lăm thế kỷ trước, Phật dạy: Hãy trông cậy vào sức mình là chính, đừng trông cậy ở nơi ai khác.
Vàng 24 là thứ vàng trọn vẹn chất vàng. Nó không thể là đồng, là thau và không bị “oxýt hóa” cháy ngầm như các kim loại khác. Mượn tánh chân thường bất hoại của vàng ròng để ví đức tánh tự giác sẵn có, Bồ tát tâm, Bồ tát hạnh sẵn có ở tâm địa mọi người. Đức tánh đó, khi mê nó không mất đi đâu, khi ngộ cũng không phải nó mới có. Nó là đức bất hoại chân thường như vàng ròng kia vậy. Do vậy mà thân Phật và thân Bồ tát là “thân kim sắc”.
Có người hỏi: Thế thì Bồ tát tâm, Bồ tát hạnh, là đức tánh vốn có của con người. Vậy sao từ trước cũng như nay, tôi vẫn là một chúng sanh đau khổ ?
- Đáp rằng: vàng vốn có ở trong quặng, mà chưa phát hiện quặng vàng. Phát hiện quặng vàng rồi cần phải nấu lọc, mới có được vàng y tinh chất. Không có hai điều kiện trên đó, thì vàng có cũng như không có vậy.
Bồ tát xuất hiện, công việc trước tiên đến viếng Tháp và ra mắt hai Như Lai: một quá khứ và một hiện tại. Tiêu biểu ý nghĩa: Rằng người phát tâm hành Bồ tát hạnh. Công việc trước hết quay về với thỉ giác và bản giác của chính mình, cũng có nghĩa là quay về với Phật pháp thường trụ ở trong khoảng không gian vô tận và thời gian vô cùng, quay về chân lý vậy.
Các Bồ tát lễ tháp, ra mắt hai Như Lai và các phân thân Phật mười phương nhóm họp, nói lên ý nghĩa: Bồ tát là Nhân địa. Nhân địa luôn luôn hướng lên quả địa. Vô thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác là cái quả mà chư Bồ tát cần đạt đến. Ngoài ra, Bồ tát không mong cầu gì khác, mong cầu khác là sai mục tiêu nguy hiểm đó.
Thời gian nửa ngày, năm mươi tiểu kiếp, năm mươi tiểu kiếp chừng nửa ngày, xét cho tột lý, nó không còn là vấn đề giải thích “vì sao?”. Bởi lẽ sự kiện ấy diễn ra không đặt trong bối cảnh hiện tượng vật chất thì dựa vào đâu để ấn định tiêu chuẩn thời gian ! Chi tiết đoạn kinh này, xác định rõ cái lý: Phật và Bồ tát được nêu trong phẩm “Bồ tát tùng địa dũng xuất” là những đức tính tượng trưng cho sự giác ngộ. Sự giác ngộ đó, nhờ sức thần Phật mà được thấy, được nghe, chứ không phải ở nơi cảnh thực. Do đó, ta có thể hiểu: Phật là Phật tâm. Bồ tát là Bồ tát tâm vốn có ở nơi đất tâm của mọi người vậy.
Nói đến Bồ tát là nói đến hạnh, nói đến sự thể hiện của việc làm tự lợi lợi tha, tự giác
giác tha. Vì hạnh tức là hành vậy. Không làm một việc làm nào là không có hạnh. Không hạnh, ý nghĩa Bồ tát không có, dù đã có thọ giới Bồ tát rồi. Do đó, Bồ tát dù nhiều vô lượng vô số, nhưng để có thực nghĩa, Bồ tát phải được thể hiện qua những hạnh sau đây:
1. Thượng hạnh: Hạnh hướng thượng. Phải thường tư duy và hành động trong chiều hướng trong sáng, cao đẹp hướng lên giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.
2. Tinh hạnh. Hạnh thanh tịnh. Luôn luôn phát triển mặt tích cực: Thấy biết chân chánh, nói năng chân chánh, hành động chân chánh, siêng năng chân chánh, định tâm chân chánh.
Hạn chế mặt tiêu cực! tham, sân, si, mạn nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ. Phẩn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, xiểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, điệu cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Những vô minh phiền não này nên cải tạo hòa bình có lợi hơn là dụng tâm thô bạo đàn áp diệt trừ:
“Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc thuỷ bào hư xuất một…”
Ngũ uẩn thân, vốn đã huyển hư, vô minh phiền não lại càng huyển hư hơn nữa.
3. Vô biên hạnh: Hạnh rnộng lớn. Lấy việc hoằng truyền chánh pháp làm việc nhà, lấy việc lợi ích chúng sanh làm sự nghiệp. Vượt ra sự ràng buộc của sự ích kỷ hẹp hòi. Phá vỡ tường thành kiên cố “chấp ngã, chấp pháp”.
4. An lập hạnh: Hạnh đứng vững. Lấy giải thoát giác ngộ làm mục tiêu. Lấy Văn, tư, tu làm phương tiện. Chống bát phong làm hành động. Dĩ từ bi vi thất. Nhu hòa nhẫn nhục vi y. Nhất thiết pháp không vi tòa.
Như lai thì bao giờ cũng an vui và ít bệnh, ít não, Như Lai đã xác định với Bồ tát như thế. Vì, Như Lai là bản thể như như của vạn pháp, dù tùy duyên mà vẫn thường hằng bất
biến.
Có chúng sanh nào mà chẳng sống ở tâm Như Lai của mình. Như Lai có lúc nào chẳng gần gũi giáo hóa chúng sanh khi chúng sanh chưa thành được Phật.
Chúng sanh dù có si mê đen tối đnế đâu, cũng có những phút giây tỉnh thức. Dù làm nhiều tội ác nhưng rồi cũng có khi làm được ít nhiều việc thiện. Thế là đã trồng căn lành cội đức ở các Phật quá khứ rồi. Thế nên Như Lai cũng chẳng khó lắm trong việc giáo hóa chúng sanh.
Dù ai có hẹp hòi tiêu cực, mtộ khi giác ngộ cũng sẽ vượt lên sôốg đời sống tích cực vô ngã vị tha được. Kinh nói: Những người Tiểu thừa Phật cũng khiến cho họ nghe học kinh điển Đại thừa.
Những yếu tố nào làm nên thành quả Bồ tát ở cõi Ta bà ?
- Phật dạy: Sở dĩ Bồ tát cõi Ta bà thành tựu được thắng quả như thế là do:
• Bồ tát trụ ở cõi hư không, phía dưới cõi Ta bà. Trụ giữa hư không, có nghĩa là không trụ vào một pháp hữu vi nào.
• Đọc kinh điển nhiều, suy nghĩ kỹ, nghĩ tưởng chân chánh.
• Không thích ở chỗ đông, nói nhiều, nói nhảm, nói thị phi vô ích.
• Thích chỗ tịch tĩnh, thường tinh tấn, không giải đãi pháp lành.
• Ham trí tuệ sông sâu, Không thích nương người, trời.
• Thường ham pháp Phật, cầu tuệ vô thượng.
Qua các kinh luận, Bồ tát Di Lặc là đức hiệu được biểu trưng cho thức. Khác hơn Bồ tát Văn Thù biểu trưng cho Trí. Nhận thức sự kiện bằng thức thì không thể hiểu được sự kiện: Bồ tát từ đất xuất hiện ra.
Nhận thức sự kiện bằng thức thì Phật Thích Ca thành đạo mới hơn 40 năm, làm gì có thể giáo hóa hàng Bồ tát có thành tích tu tập và phước đức tương đương với Tam a tăng kỳ ! Vì thế, nẩy sanh ý nghĩ: “Con già cha trẻ” cầu Phật nói rõ nguồn cơn…
Để tháo gỡ mối nghi ngờ, Phật nói rõ về tuổi thọ của Như Lai ở phẩm Như Lai thọ
lượng, thứ 16 tiếp.








PHẨM 16
NHƯ LAI THỌ LƯỢNG
Bấy giờ đức Phật Thích Ca bảo các Bồ tát và Đại chúng: “Các ngươi hãy tin lời chân thật của Như Lai! Nói xong, Phật lập lại hai lần câu nói đó.
Đứng đầu các Bồ tát và đại chúng, Bồ tát Di Lặc ba phen chấp tay bạch Phật: “Thế Tôn, xin cứ nói, chúng con sẽ tin lãnh lời Phật”.

Thấy hàng Bồ tát đã ba phen cầu thỉnh, đức Phật bèn nói: “Hãy nghe đúng như sự thật, sức mạnh thần thông bí mật của Như Lai. Tất cả thế gian, trời người cùng A tu la đều nói rằng Phật Thích Ca, rời cung họ Thích, đến thành Già da cách đó không xa, ngồi nơi đạo tràng, chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng nầy các thiện nam tử, ta
từ thành Phật đến nay, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp đã trôi qua. Giả sử có người đem năm trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ tam thiên đại thiên thế giới, tán nhỏ thành bụi, rồi đem hạt bụi ấy đặc nơi hướng đông, sau khi vượt qua năm trăm ngàn vạn ức na do tha a tăng kỳ nước. Đặt xong, trở lại lấy một hạt khác và cũng đem đặt ở hướng đông y như trước, cho đến khi nào số bụi nói trên bị dời đi hết. Này các thiện nam tử, ý các ngươi thế nào? Có thể tưởng tượng, đếm, tính, số thế giới trên đó các hạt bụi được đặt lên không?”
Bồ tát Di Lặc và tất cả đều bạch: “Thế Tôn, các thế giới ấy vô lượng vô biên, làm sao đếm tính cho được, cũng không thể dùng sức tâm mà tưởng tượng được. Tất cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác đến bậc “vô lậu” A La Hớn còn không thể suy tưởng được con số thế giới ấy, huống chi chúng con mới là “a bệ bạt trí” thì làm sao biết được”.
Đức Phật nói: “Này các thiện nam tử, ta sẽ nói rạch ròi cho các ngươi nghe. Cứ kể mỗi hạt bụi là một kiếp, thì từ ta thành Phật đến nay, số kiếp trôi qua còn nhiều hơn số trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ hạt bụi ấy. Từ ấy tới nay, ta luôn ở tại thế giới Ta bà thuyết pháp, giáo hóa, lại cũng ở nơi khác tại ở trăm ngàn muôn ức na do tha nước, dắt dẫn chúng sanh một cách ích lợi. Này các thiện nam tử, trong khoảng thời gian đó, ta có nói Phật Nhiên Đăng v.v…và cũng nói có chư Phật nhập Niết bàn, nhưng tất cả đều là phương tiện mà phân biệt nói có thành Phật, có nhập Niết bàn. Này các thiện nam tử, nếu có chúng sanh nào đến chỗ ta ở, ta lấy Phật nhãn xem coi các căn của chúng sanh ấy nhụt bén thế nào, rồi theo đó mà độ. Mỗi nơi, ta tự xưng với những danh hiệu bất đồng và cho biết tuổi tác lớn nhỏ cũng khác, lại nói sẽ nhập Niết bàn và còn dùng nhiều phương tiện khácđể nói bày pháp vi diệu hầu làm cho chúng sanh phát tâm hoan hỉ. Này các thiện
nam tử, vì thấy chúng sanh thích nơi “tiểu pháp”, đức mỏng, phiền não dày cho nên Như Lai phải vì những hạng ấy mà nói rằng ta lúc còn trẻ xuất gia, rồi đặng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thật ra từ ta thành Phật đến nay, lâu hơn thời gian ấy nhiều. Đây
chẳng qua vì phương tiện mà nói như vậy thôi, để giáo hóa chúng sanh và khiến họ nhập
Phật đạo. Này các thiện nam tử, kinh điển của Như Lai nói ra, đều nhằm chỗ độ thoát chúng sanh. Khi thì nói về thân mình, khi thì nói về thân người khác, hoặc chỉ thân mình, hoặc chỉ thân người khác, hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người khác, nhưng dầu trong trường hợp nào, tất cả lời của Như Lai đều chân thực, chẳng dối. Tại sao vậy? Vì đúng như thật, Như Lai thấy tướng của ba cõi không có sanh tử, không lui, không xuất, không
ở đời mà cũng không diệt độ, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải khác, chẳng phải ba cõi mà có ba cõi. Các việc như thế, Như Lai thấy rõ, không bao giờ có sự sai lầm. Nhưng vì chúng sanh tâm tánh khác nhau, cho nên phải dùng nhân duyên, thí dụ, lời nói khác nhau để thuyết pháp khiến họ sanh căn lành. Những việc Phật làm (Phật sự) chưa từng dừng bỏ. Như vậy, từ ta thành Phật đến nay, thật rất lâu xa, còn thọ mạng thì dài vô lượng a tăng kỳ kiếp và luôn luôn thường trú bất diệt. Này các thiện nam tử, những việc làm theo Bồ tát đạo của ta, đến nay chưa phải là hết, vì vậy, thọ mạng của ta còn dài gấp mấy lần con số nói trên. Tuy nhiên dầu chưa thực diệt độ, ta vẫn nói là sẽ diệt độ, để làm phương tiện giáo hóa chúng sanh. Tại sao vậy? Vì nếu Phật ở lâu tại thế thì hạng đức mỏng không chịu trồng căn lành, cứ giữ mãi thói bần cùng, hạ tiện, tham
đắm năm món dục lạc (tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ). Đã mắc vào lưới nhớ tưởng vọng kiến mà nếu thấy Như Lai ở đây mãi mãi không diệt độ, thì làm sao không sanh kiêu mạn, phóng tâm, giải đãi, và như vậy thì không tưởng đến và cũng sanh lòng cung kính Phật như một bậc khó gặp.
“Này các Tỳ kheo, nên biết chư Phật xuất thế là điều khó gặp. Vì sao? Những người đức mỏng trải qua vô lượng trăm ngàn ức kiếp, có khi gặp Phật mà có khi cũng không gặp. Vì vậy cho nên ta nói Như Lai khó thấy. Nghe lời nói nầy, chúng sanh tất nghĩ đến lẽ ngàn năm một thuở mà sanh lòng luyến mộ khao khát mà trồng căn lành. Bởi cớ, tuy không thực diệt độ, mà vẫn nói là diệt độ. Lại nữa, này thiện nam tử, Pháp của chư Phật Như Lai cũng vậy, đều chân thực không hư dối và chỉ có một mục đích là đưa dắt chúng sanh. Thí dụ có một ông thầy thuốc giỏi, trí tuệ sáng suốt, phương dược khéo luyện, bệnh nào cũng trị hết, nhà con cái rất đông. Gặp lúc ông có việc phải đi ra nước ngoài, các con ở nhà uống phải thuốc độc, cơn điên nổi lên, té nằm dưới đất. Ngay lúc đó ông cha về đến nhà. Các con của ông, có đứa mất tâm, có đứa còn tâm, nhưng khi xa thấy cha về, tất cả đều
vui mừng quỳ lạy, chào hỏi và thưa: “Rằng ngu si nên uống phải độc dược, xin cha cứu tử”. Cha thấy con khổ não như vậy, bèn theo các phương đã kinh nghiệm mà chế thuốc, màu sắc hương vị đều tốt đẹp và bảo các con uống: “Đây là lương dược, mùi ngon, sắc đẹp, các con hãy uống đi thì sẽ mau trừ khổ não và bao nhiêu khổ hoạn sẽ không tái phục”. Những đứa không mất tâm nghe xong liền uống và được hết bệnh. Còn những đứa mất tâm, tuy thấy cha cũng vui mừng, cầu xin chữa bệnh, nhưng thuốc thì không chịu uống. Vì sao ? Vì bị độc thấm sâu, đã mất tâm trí rồi, cho nên thuốc ngon, sắc đẹp lại cho là không ngon không đẹp. Ông cha thấy vậy mới suy nghĩ: Những đứa con nầy mới đáng thương, thấy cha vui mừng cầu cứu, nhưng khi cho thuốc lại không chịu uống. Ấy cũng
vì bị chất độc cho nên tâm trí đều điên đảo. Vậy phải dùng chước mới được. Nghĩ xong ông mới nói rằng: “Cha nay già yếu, sắp chết nay mai, có mấy món thuốc hay để lại, các con nên giữ mà dùng, khỏi sợ lầm thuốc dở. Nói rồi ông bỏ nhà ra đi qua nước khác và cho người về báo tin ông đã chết. Hay tin dữ, các con mất tâm của ông mới nghĩ, cha lành đã chết thì nay còn ai đâu mà cứu hộ cho mình! Vì thường nhớ thương như thế, tâm bèn
tỉnh ngộ, biết thuốc của cha để lại là hay, bèn lấy ra dùng, bao nhiêu độc bệnh đều lành hết. Nghe tin nầy, ông cha trở về xứ cho con cái thấy mặt.
“Này thiện nam tử, các ngươi nghĩ thế nào? Nói dối như ông lương y kia, có phải là một tội không?”
“Bạch Thế Tôn, không”.
Đức Phật nói: “Ta cũng thế. Từ thành Phật đến nay, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, nhưng vì muốn cứu độ chúng sanh, cho nên phương tiện mà mà nói là sẽ diệt độ. Như vậy, đối với sự thật, cũng không thể nói rằng ta đã phạm tội nói sai nói dối”.
THÂM NGHĨA
Lời nói của Như Lai quyết định phải là lời nói chắc thật. Vậy mà trước khi nói về Như Lai thọ lượng, Phật phải ba lần nhắc nhở: “Bồ tát các ông phải tin hiểu lời nói chắc thật của Như Lai. Bởi vì nói về số lượng của tuổi thọ của Như Lai là một sự kiện khó tin đối với thường tình và vì vậy mà trở thành một sự kiện vô cùng quan trọng.
Nói về số lượng tuổi thọ của Như Lai cũng có nghĩa là nói đến sự thường hằng vĩnh cửu của Pháp thân Phật, của Như Lai Viên Giác Diệu Tâm vậy. Còn Thích Ca Mâu Ni là ứng thân Phật, thọ lượng đó không tương quan gì với Như Lai thọ lượng ở phẩm kinh nầy.
Một con số vượt ngoài tính đếm, chỉ có thể dùng từ: bất khả thuyết, bất khả thuyết, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp để nói. Thế mà, Phật nói: Từ ta thành Phật nhẫn lại, lâu hơn số đó trăm ngàn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay, ta thường ở cõi
Ta bà nói pháp giáo hóa và cũng ở trong trăm ngàn muôn ức a tăng kỳ cõi nước khác dắt dẫn lợi ích chúng sanh. Ở chặng giữa, ta nói Phật Nhiên Đăn v.v….xuất thế, và các Phật Niết bàn….đó là ta dùng phương tiện phân biệt mà nói như vậy.
Đúng như định nghĩa ở kinh Bát Nhã Kim Cang: Như Lai giả tức chư pháp như nghĩa. Nhược hữu nhơn ngôn: Như Lai nhược lai, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhơn bất năng giải ngã sở thuyết nghĩa. Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai: Như Lai là bản thể chơn như của các pháp. Nếu ai nói Như Lai có đến, có đi, có ngồi, có nằm, người đó không hiểu gì về Như Lai cả. Như Lai đi không chỗ từ, đến không chỗ tới. Như Lai vô thỉ vô chung. Phải hiểu Như Lai qua pháp thân thường trụ mà Đa Bảo Phật được tượng trưng Pháp thân Như Lai thường trụ về mặt thời gian. Vô lượng vô số phân
thân Phật Thích Ca khắp hằng hà sa cõi nước mười phương, tượng trưng Pháp thân Phật thường trụ về mặt không gian vậy.
Với nhận thức thông thường, đại biểu là Bồ tát Di Lặc, chỉ biết Như Lai qua bát tướng thành đạo của Phật Thích Ca cho nên nẩy sanh nghi vấn: “cha trẻ mà con già”. Nhận thức bằng trí, hiểu Như Lai qua Viên giác Diệu Tâm thì “cha không trẻ” mà rất già. Già với một số lượng tuổi thọ không ngôn từ tính đếm được.
Vì chúng sanh ưa pháp nhỏ (tiểu thừa), phước mỏng, tội dày, đáp ứng tâm hiểu biết của chúng sanh, Như Lai nói: Lúc trẻ có xuất gia, rồi được thành đạo chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Sự thật, Như Lai dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh mà nói như vậy thôi. Kinh điển của Như Lai nói ra vì độ thoát chúng sanh. Hoặc nói thân mình, Hoặc nói thân người, hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người. Lời nói của Như Lai đều thật chẳng dối. Vì Như Lai nhận thức tam giới đúng như thật: không có sanh tử, không vào, không ra cũng không có người đời và người diệt độ. Nó chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy ba cõi. Các việc như thế, Như Lai thấy rõ không sai lầm. Chúng sanh có nhiều căn tánh, nhiều mong muốn, nhiều nết hạnh khác nhau, Như Lai vận dụng nhân duyên, thí dụ, lời lẽ
thuyết pháp làm Phật sự rồi nói có xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết bàn. Sự thực từ Như Lai thành Phật đến nay, thật lâu xa, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp, thường còn chẳng mất.
Như Lai nói: Như Lai sẽ diệt độ là để cho những chúng sanh giải đãi lưu tâm khởi ý tưởng khó gặp, sanh lòng cung kính tinh tấn tu hành cũng như vị lương y cắt thuốc rồi đi, để cho bịnh nhân không ỷ lại nơi thầy mà quý thuốc vậy.
Để tóm lược nghĩa trên, đức Như Lai nói kệ:
Từ ta thành Phật lại
Trải qua các số kiếp
Vô luợng trăm nghìn muôn
A tăng kỳ ức năm Thường nói pháp giáo hóa Vô số ức chúng sanh
Khiến vào nơi Phật đạo Đến nay vô lượng kiếp Vì phổ độ chúng sanh
Phương tiện hiện Niết bàn Mà thiệt chẳng diệt độ Thường nơi đời nói pháp Ta thường ở nơi đây
Dùng các thức thần thông Khiến chúng sanh điên đảo Dù gần mà chẳng thấy Chúng thấy ta diệt độ
Siêng cúng dường xá lợi Họ thường ôm luyến mộ Mà sanh tâm phát ngưỡng
Chúng sanh ý chất trực Đã tin phục nhuyển nhuần Một lòng muốn thấy Phật Chẳng tự tiếc thân mạng Giờ đây cùng chúng tăng Đều ra khỏi Linh Thứu
Ta nói với chúng sanh Thường ở đây chẳng diệt Vì dùng sức phương tiện Hiện diệt mà chẳng diệt
…Người chất trực nhu hòa
Có tu các công đức Thì đều thấy thân ta Ở tại đây nói pháp
…Các ông người có trí Chớ ở đây sanh nghi Nên dứt hẵn nghi ngờ Lời Phật thật không dối
Như lương y chước khéo Nhằm cứu trị cuồng tử Thiệt còn mà nói chết
Nhưng không là nói vọng…





PHẨM 17
PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Khi đó, Thế Tôn bảo Bồ tát Di Lặc: “Này A Dật Đa ! Lú ta nói về thọ mạng lâu dài của
Như Lai, thì có:
Sáu trăm tám muôn ức na do tha Hằng sa chúng sanh được “Vô sanh pháp nhẫn”.
• Một số Đại Bồ tát ngàn lần gấp đôi được môn “văn trì đà la ni”.
• Một số Đại Bồ tát đông như một thế giới vi trần được “nhạo thuyết vô ngại biện tài”.
• Một số Đại Bồ tát đông như một thế giới vi trần được trăm ngàn muôn ức vô lượng môn “triền đà la ni”
• Một số Đại Bồ tát đông như vi trần của tam thiên đại thiên thế giới chuyển được
“pháp luân bất thối”

• Một số Đại Bồ tát đông như vi trần của nhị thiên quốc độ chuyển được “pháp luân thanh tịnh”.
• Một số Đại Bồ tát đông như vi trần của tiểu thiên quốc độ, trong tám đời tái sanh, sẽ được “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”
• Một số Đại Bồ tát đông như vi trần của bốn tứ thiên hạ, trong bốn đời tái sanh, sẽ được “Chánh Đẳng Chánh Giác”
• Một số Đại Bồ tát nhiều như vi trần của ba tứ thiên hạ, trong ba đời tái sanh, sẽ được “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”
• Một số Đại Bồ tát nhiều như vi trần của hai tứ thiên hạ, trong hai đời tái sanh, sẽ được “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”
• Một số Đại Bồ tát nhiều như vi trần của một tứ thiên hạ, trong một đời tái sanh, sẽ được “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”
• Một số chúng sanh nhiều như vi trần của tam thế giới, đều phát tâm “Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác”
Đức Phật nói xong, một trận mưa hoa báu từ hư không rơi xuống trên vô lượng trăm ngàn muôn ức Phật ngồi trên tòa sư tử, dưới cội cây báu, trên đức Phật Thích Ca và đức Phật
Đa Bảo đang ngồi trong tháp bảy báu, và trên tất cả Bồ tát và bốn bộ chúng. Lại có trận mưa hương bột chiên đàn, hương trầm thủy, và trống trời tự vang. Lại có trận mưa thiên y và trên không thòng xuống các thứ chuỗi ngọc, các lò hương báu đốt hương vô giá để cúng dường đại chúng.
Trên mỗi đức Phật có các Bồ tát tay cầm phan lọng, trước sau lên đến trời Phạm thiên, dùng âm thanh vi diệu, ca vô lượng bài kệ tán thán chư Phật.
Khi ấy Bồ tát Di Lặc đứng dậy lễ Phật rồi mói một bài kệ nhắc lại và xưng tụng những lời Phật vừa dạy.
Bồ tát Di Lặc nói kệ xong, Phật nói: “Này A Dật Đa! chúng sanh nào nghe Phật thọ mạng lâu dài như thế mà chỉ sanh được một niệm tin tưởng, thì đặng công đức không thể hạn lượng. Công đức nầy lớn lao cho đến nỗi đem công đức tu 5 Ba la mật đầu (bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định) trong 80 muôn ức na do tha kiếp ra so sánh thì trong muôn ức ngàn phần, công đức tu Ba la mật không kịp một. Lại nữa, ai được công đức tin tưởng như trên thì không bao giờ thối bước trên đường dẫn đến Chánh Giác.
Sau khi nói một bài kệ lập lại ý trên, Đức Phật nói tiếp: “Này A Dật Đa! Người nào nghe nói về thọ mạng lâu dài của Phật mà hiểu được cái ý thú trong lời nói đó, thì người ấy được công đức vô lượng, lại có thể phát khởi trí tuệ vô thượng của Như Lai. Huống là người hiểu rộng nghe nhiều về kinh Pháp Hoa, hoặc bảo người nghe, hoặc tự thọ trì, hoặc bảo người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, hoặc dùng mọi thứ hương hoa, v.v…cúng dường kinh. Người ấy đặng công đức vô biên, có thể sanh “nhất thiết chủng
trí”.
“Này A Dật Đa! Còn thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe ta nói mà sanh lòng tin hiểu chắc về thọ mạng lâu dài của Phật, thì người ấy ắt thấy Phật thường trụ tại Kỳ Xà Quật nói Pháp cho các Đại Bồ tát và Thanh Văn vây quanh nghe. Chẳng những thế, mà còn thấy đất cõi Ta bà bằng lưu ly, mặt liền bằng thẳng, tám nẻo rào bằng dây vàng ròng, bảy
cây báu và lâu đài cũng đều bằng bảy báu họp thành, trong số Bồ tát ở. Ai mà quán tưởng
được như thế, thì nên biết đó là biểu hiệu của một lòng tin tưởng sâu sắc.
“Lại nữa, sau khi Phật diệt độ, ai nghe kinh nầy mà không chê bai, sanh lòng tùy hỉ, thì đó cũng là biểu hiệu của một lòng tin hiểu sâu chắc. Còn đi đọc tụng, lãnh, giữ kinh này, thì người đó đầu đội Như Lai.
“Này A Dật Đa! Tin hiểu được như thế, thì không cần vì ta mà dựng chùa tháp, cũng không cần cất tăng phường và dùng “tứ sự” cúng dường chúng tăng. Vì sao ? Vì thọ trì đọc, tụng kinh nầy là đã dựng tháp, tạo lập tăng phường, là đã dùng hương hoa, chuỗi ngọc, tràn phan, kỹ nhạc…tán thán chư Phật trong muôn ngàn ức kiếp rồi.
“Này A Dật Đa! Thọ trì, đọc tụng kinh nầy được công đức như thế, hà huống còn tu hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ, thì công đức nầy không còn gì hơn.
“Nếu thọ trì, đọc tụng kinh nầy mà còn tạo tháp, xây dựng tăng phường, cún dường, khen ngợi chúng Thanh văn và Bồ tát, hoặc giải nói kinh Pháp Hoa rồi còn thanh tịnh trì giới nhẫn nhục, quí việc ngồi thiền, tinh tần mạnh mẽ, căn lành trí sáng, thì đó là những người đã đến Đạo tràng, gần ngồi dưới cội cây Đạo để chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Tới đây, đức Phật nói một bài kệ nhắc lại ý trên.
THÂM NGHĨA
Diệu Pháp Liên Hoa kinh được liệt vào hệ tư tưởng tối thượng thừa trong Phật giáo. Các nhà Phật học uyên thâm còn phê phán: Tư tưởng Pháp Hoa cị trí của nó không những ở vào Đại thừa Viên giáo mà còn siêu viên giáo nữa. Đấy là hệ tư tưởng vòi vọi “Độc diệu thuần viên”. Thế là tiểu đề của phẩm kinh nầy lại là Phân biệt công đức. Nếu là thức
giả, nghe bằng nhĩ căn đượm ướt giáo lý Bát Nhã không tôn, đáng chẳng nghĩ ngợi lắm sao ?
Xin đáp: Phân biệt để không còn gì phân biệt. Phân biệt để chỉ con đường thẳng tắt, để dẫn đến mục đích cứu cánh cuối cùng, để hết đi, hết đến, hết làm, để “rồi” tất cả. Phân biệt công đức ở đây là nhằm mục tiêu đó.
Vậy phân biệt công đức là công đức gì?
- Công đức về vấn đề Thọ mệnh Như Lai ấy. Phật nói về Thọ mệnh Như Lai, vậy có thể hiểu và tin nổi hay không ? Phẩm phân biệt, phân biệt rằng: Hiểu ít thì lợi nhỏ, hiểu vừa thì lợi vừa, hiểu nhiều lợi lớn, hiểu kỹ quả vị cao, hiểu sâu giải thoát trọn vẹn, hiểu đúng giác ngộ hoàn toàn, thường thọ dụng Phật chất của mình, ở trong đó kinh hành và nằm ngồi trong lòng Phật:
…Phật tử trụ thử địa Thị tắc Phật thọ dụng Thường tại ư kỳ trung Kinh hành cập tọa ngọa…
Sau khi được nghe về thọ mệnh Như Lai, đại chúng tùy căn tánh để thể nhập và phát khởi lòng tin. Kết quả, đức Phật cho biết có:
- Sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh, được vô sanh pháp nhẫn.
- Bội hơn nghìn lần Đại Bồ tát, được môn Văn trì đà la ni.
- Nhiều như vi trần của một thế giới Đại Bồ tát, được nhạo thuyết vô ngại biện tài.
- Nhiều như vi trần của một thế giới Đại Bồ tát, được vô lượng môn đà la ni.
- Nhiều như vi trần của tam thiên đại thiên thế giới Bồ tát, chuyển được pháp luân bất thối.
- Nhiều như vi trần của nhị thiên quốc độ Đại Bồ tát, chuyển được pháp luân thanh tịnh.
- Nhiều như vi trần của tiểu thiên quốc độ Đại Bồ tát, tám đời sẽ được Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
- Nhiều như vi trần của bốn tứ thiên hạ Đại Bồ tát, bốn đời sẽ được Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
- Nhiều như vi trần của hai tứ thiên hạ Đại Bồ tát, hai đời sẽ được Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
- Nhiều như vi trần của một tứ thiên hạ Đại Bồ tát, một đời sẽ được Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
- Nhiều như vi trần của tám thế giới chúng sanh, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác.
Phật vừa nêu kết quả lớn lao trên, tức thì một trận mưa hoa, mưa hương báu từ không trung rơi xuống cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật ngồi ở tòa sư tử dưới cội cây báu. Thích Ca và Đa Bảo Như Lai ngồi trong tháp báu, cùng có vô lượng Bồ tát và tứ chúng đông vầy. Các Bồ tát cầm phan lọng, dùng âm thanh vi diệu ca ngâm vô lượng bài kệ tán thán chư Phật…
Như ta thấy, đại chúng nghe Thọ mệnh Như Lai, tùy tin hiểu, kết quả đã lớn lao. Phật nói lại cái kết quả lớn lao kia, kết quả còn lớn lao hơn nữa. Sự cúng dường: mưa hoa, mưa hương, mưa thiên y, mưa trầm thủy, chiên đàn, chuỗi ngọc, trỗi kỹ nhạc âm thanh tán thán….Cho ta thấy ai nghe hiểu được Như Lai thọ mệnh, người đó sẽ hiểu được Như
Lai thường trụ trong thời gian vô tận, không gian vô cùng . Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai không còn là vấn đề “khác ông, khác Phật nữa. Một Phật có đủ ba đời Phật. Ba đời Phật ở trong một Phật. Cho nên một thời cúng dường. Chỉ một thời thôi đủ cả tam thế Phật: Quá (Đa Bảo), Hiện (Thích Ca), Vị lai (Bồ tát và tứ chúng).
Phân biệt công đức để chỉ cho chúng sanh, cho Phật tử về cái nhận thức, cái hiểu, cái tin đúng chánh pháp, đúng chân lý sẽ đem lại kết quả vô cùng to lớn như vậy. Ngoài ra cũng còn những công đức cũng cần phân biệt như sau:
• Công đức của người nghe rồi sanh một niệm tin hiểu.
• Công đức nghe mà hiểu ý thú lời nói của Phật.
• Công đức của người nghe rồi sanh lòng tin sâu hiểu chắc.
• Công đức của người nghe rồi tùy hỉ sau Như Lai diệt độ.
Nghe thọ mệnh Phật mà tin hiểu cũng không thối thất đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Công đức của người tu năm độ trước của lục độ, trải qua vô lượng đời, nhưng so với công đức của người tin hiểu thọ mệnh Như Lai thì không bằng một phần tỷ, cho đến không tỷ lệ được. Tại sao vậy? Tại vì chưa có tuệ. Không có tuệ thì cách Phật còn xa. Còn người tin hiểu Thọ mệnh Như Lai là mầm trí tuệ đã nẩy nở rồi, cho nên công đức lớn.
Nghe Thọ mệnh Như Lai mà hiểu ý thú, người nầy có thể sanh trí tuệ Như Lai vô thượng. Nếu thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, cúng dường kinh, có thể sanh Nhất thiết chủng trí.
- Hiểu thế nào thì được gọi là hiểu ý thú? Hiểu ý thú là hiểu rằng: Như Lai là Như Lai Viên Giác Diệu Tâm. Tâm đó tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, là tâm mầu nhiệm, tròn đầy giác ngộ. Thọ lượng của nó vô thỉ vô chung, vì không sanh không diệt. Nói thọ lượng Như Lai kỳ thật chính là nói thọ lượng của tâm. Tâm đó lại là tâm vốn có của tất cả chúng sanh. Cũng có thể gọi nó là Phật tri kiến, là thường trụ chơn tâm, là Phật tánh, là Bát Nhã thật tướng của mọi người. Hiểu ý thú như vậy rồi…thì…chợt thấy rằng: Ta là Phật ! Phật ở lòng ta ! Bấy giờ trí tuệ Như Lai Vô thượng và Nhất thiết chủng trí đồng một thời sanh đầy đủ ở nơi ta vậy.
Nghe Thọ mệnh Như Lai sanh lòng tin hiểu chắc thì người đó thấy Phật thường ở núi Kỳ xà Quật cùng chúng Bồ tát Thanh Văn nói pháp. Lại thấy cõi Ta bà không ô uế nữa. Đất bằng lưu ly, cây báu ngang hàng, lâu đài báu nguy nga. Vàng Diêm phù làm lan can trang trí khắp tám nẻo đường đẹp đẽ….
Nghe qua rất huyển hoặc ! Có thật vậy không ? Nếu không thì Phật nói dối ? Nếu thật thì thật thế nào ?
- Đó là sự thật. Nhưng sự thật phải được hiểu như vầy:
Người học Đại thừa tuệ, luôn luôn quán chiếu, từ quán chiếu đi đến chiếu kiến, thấy rõ rằng: Phật là thường tru. Pháp là thường tru. Tăng là thường tru. Đó là thập phương thường tru Tam bảo ở ngoài. Chẳng những vậy, còn phải biết cho rõ rằng: Phật thường tru. Pháp thường tru. Tăng thường tru vốn có ở tâm mình và từ đó hiểu rằng:
“Phật pháp tại thế gian Bất ly thế gian giác Ly thế mích Bồ đề
Kháp như cầu thố giác”. Nghĩa là:
Phật và Pháp ở tại thế gian Thành Phật, không xa rời thế gian Xa rời thế gian, mong cầu quả Phật
Giốn như tìm sừng thỏ lông rùa. (Kinh Pháp Bảo Đàn)
Không tư duy quán chiếu như vậy, không tin và hiểu như vậy, thì suốt đời dù có tu hành ép xác, khổ thân, hủy thân, rốt cuộc không đem lại kết quả gì. Bởi vì sai lạc chánh nhơn thành Phật thì không sao thành Phật được, cũng như đem cát nấu hy vọng thành cơm, không làm sao có cơm được !
Cõi Ta bà vốn không uế tịnh. Tịnh hay ố do tâm mê hay ngộ của con người. Mùa Xuân vốn chẳng vui buồn, vui buồn do tâm trạng người nhìn xem cảnh vật:
“Vui Xuân vui khắp phương trời,
Buồn Xuân riêng để cho người tương tư” (Nguyễn Du)
* Sau Như Lai diệt độ, ai nghe Thọ mệnh Như Lai mà sanh lòng tùy hỉ, đó là biểu hiện lòng tin sâu chắc. Nếu pháp tâm thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói thì người nầy luôn luôn có Như Lai bên cạnh.
Ta có tâm Như Lai thì ta là Như Lai. Ta là Như Lai thì trên đầu, trên cổ, bên cạnh, trên toàn thân có Như Lai cũng không là việc khó hiểu nữa.
* Người nông dân gieo hạt, ương mầm, trồng cây để mong ngày thu hoạch được trái chín. Trái chín đã thu hoạch, có nghĩa là thời kỳ gieo hạt, ương mầm, trồng cây, người nông dân đã làm tốt trước rồi.
Tất cả sự cúng dường Tam bảo dù nhỏ dù lớn, dù ít dù nhiều, nhằm gieo hạt giống giải thoát giác ngộ, trở về Như Lai Phật của mình. Nay hiểu được, hiểu kỹ, hiểu chắc, hiểu đúng về Thọ mệnh Như Lai có nghĩa là tự biết, tự thể nhập Phật mình, chính mình là Phật thì không cần cúng dường Tam Bảo nữa, vì được xem đã cúng dường viên mãn lắm rồi vậy.








PHẨM 18
TÙY HỈ CÔNG ĐỨC
Lúc bấy giờ Bồ tát Di Lặc bach Phật: Thế Tôn ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh Pháp Hoa mà lòng vui đẹp (tùy hỉ), thì những người ấy đặng bao nhiêu phước đức ?”
Phật bảo Bồ tát Di Lặc: “A dật đa ! Sau Như Lai diệt độ, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cùng hạng người trí khác, nghe kinh này mà lòng vui đẹp, rồi từ trong pháp hội ra đến chỗ khác, hoặc tại nơi chư tăng ở, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc nơi thành ấp, đường sá, xóm làng, ruộng rẫy, đem điều đã nghe, tùy sức mà diễn thuyết cho cha mẹ, họ hàng, thiện hữu cùng nghe, rồi những người này nghe xong dạy cho người khác. Những người khác này nghe xong, dạy cho những người khác nữam như vậy cho tới người thứ năm mươi.

Này A dật đa ! Công đức nghe kinh vui đẹp của hàng thiện nam tử nữ nhân thứ năm mươi đó sẽ được như lời ta sắp nói đây, ngươi hãy lắng nghe.
“Nếu có người làm hạnh bố thí, ban cấp những thứ cần dùng ngọc ngà, châu báu, voi ngựa, xe cộ, cung điện, lầu gác cho vô lượng chúng sanh trong vô số thế giới, suốt một thời gian là 80 năm. Tài thí như vậy xong rồi, vị thí chủ ấy lại nghĩ đến việc đem Phật pháp ra mà dạy dỗ dìu dắt chúng sinh lúc ấy đã già suy, tuổi quá tám mươi, tóc bạc mặt nhăn, không bao lâu sẽ chết. Vị thí chủ ấy liền nhóm chúng sinh giáo hóa, khiến chúng đặng quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm hoặc A la hớn. Ý ông nghĩ sao ? Công đức của vị đại thí chủ đó có nhiều chăng ?
Bồ tát Di Lặc bạch Phật: “Thế Tôn ! Công đức của người ấy nhiều vô lượng vô biên. Chỉ
việc tài thí thôi đã là vô lượng rồi, hà huống còn pháp thí đến đặng A la hớn”.
Phật bảo Bồ tát Di Lặc: “Ta rành nói ngươi nghe nhé ! Công đức của vị thí chủ ấy không bằng một trong trăm ngàn muôn ức phần công đức của người thứ năm mươi nghe Kinh Pháp Hoa mà lòng vui đẹp.
“Này A dật đa ! Người nghe Kinh Pháp Hoa thứ năm mươi mà tùy hỉ còn được công đức vô lượng vô biên như thế, huống hồ hạng người nghe kinh lúc ban sơ, ngay trong Pháp hội.
“Này A dật đa ! Nếu có người vì lòng muốn nghe kinh này mà đến chùa, hoặc ngồi, hoặc đứng, dầu trong chốc lát để nghe nhận lời, người ấy có những công đức nhờ đó mà sẽ tái sanh trong cảnh giàu có rồi sau lại lên thiên cung.
“Còn người nào, trong chỗ giảng kinh mà biết khuyên người đến sau ngồi nghe, hoặc chia chỗ ngồi, thì người ấy, khi chuyển thân, đặng chỗ ngồi của Đế Thích, Phạm Vương hay Chuyển luân thánh Vương.
“A dật đa ! Nếu lại có người giới thiệu và khuyến khích người khác nghe giảng Kinh Pháp Hoa, và được khuyên nhận lời để nghe, dầu trong chốc lát, thì người giới thiệu và khuyến khích đặng công đức, khi chuyển thân cùng sanh một nơi với hàng Bồ tát, đầy đủ “tổng trì”, căn tánh bén nhạy, có trí tuệ, trăm ngàn muôn đời chẳng hề ngọng câm, miệng lưỡi không hôi thối, môi răng tốt đẹp, mặt mày đoan trang, mũi lớn cao thẳng.
“A dật đa ! Ngươi thử xem: khuyên một người đi nghe Pháp mà được công đức như thế, hà huống một mòng nghe, nói, đọc, tụng Kinh Pháp Hoa, lại trong đám đông vì người mà giải thích, và tu hành đúng như lời nói trong kinh.”
THÂM NGHĨA
Khi thấy một người khác làm một điều gì mà mình đồng ý vui mừng tán thán hổ trợ, gọi đó là tùy hỉ. Tùy hỉ cũng có thể là tùy hỉ thiện và cũng có thể là tùy hỉ ác. Về hành động thiện cũng như hành động ác, kinh điển thường chia: Hoặc tự tác hoặc giáo tha tác, hoặc kiến tác tùy hỉ, có nghĩ là hoặc tự mình làm, hoặc bảo người làm, hoặc thấy ai làm tùy hỉ tán thành. Tùy hỉ tác là gián tiếp giáo tha tác; giáo tha tác là gián tiếp tự tác. Thế nên
tùy hỉ cũng có thể mắc tội lớn, nếu tùy hỉ với những điều ác, người ác. Tùy hỉ với Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa là tùy hỉ thiện, tùy hỉ với chân tâm, với Phật tri kiến mình, nên phước đức lớn lao, không thể dùng ngôn từ tán thán, dùng tỉ lệ so sánh được.
Vậy tùy hỉ là tùy hỉ những gì ở Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ?
* Tùy hỉ rằng: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là Kinh Đại Thừa viên giáo liễu nghĩa. Ba đời chư Phật chỉ nói Kinh Pháp Hoa trước giờ phút sắp nhập Niết bàn để rồi thọ ký cho tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật.
(Phẩm Tựa thứ 1)
* Tùy hỉ rằng: chư Phật Như Lai ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên:
• Giới thiệu (khai) tri kiến Phật của chúng sanh cho chúng sanh biết.
• Chỉ (thị) tri kiến Phật của chúng sanh cho chúng sanh thấy.
• Hướng dẫn chúng sanh hiểu kỹ (ngộ) về tri kiến Phật của mình.
• Dạy cho chúng sanh sống bằng (nhập) tri kiến Phật của mình vốn có: Vì vậy, kinh nói: “Tất cả chúng sanh đã thành Phât”
(Phẩm Phương tiện thứ 2)
* Tùy hỉ rằng: Giáo lý của ba đời chư Phật đều dạy cho chúng sanh pháp nhất thừa: Hễ tu hành là thành Phật. Thanh văn, Duyên giác thừa chỉ là xe dê, xe nai; ông Trưởng giả phương tiện nói đó thôi.
(Phẩm Thí dụ thứ 3)
* Tùy hỉ rằng: Phật và chúng sanh cùng ở một nguyên quán: Như Lai viên giác diệu tâm; cũng như đứa con hoang cùng ông Trưởng giả vốn là cha con ruột, cùng ở trong cảnh gia đình một cự phú hào. Con vì bỏ cha, bỏ nhà đi hoang nên đói khổ lang thang lưu lạc. Ngày trở về nhận được cha, thì con hưởng trọn cái gia tài cự phú hào vô tận ấy.
Chúng sanh không biết mình có Phật chất đành cơ cực sống với tâm trạng đau khổ bởi vô minh. Ngày tỉnh ngộ quay về sống bằng tri kiến Phật của mình thì Bồ đề Niết bàn là sự nghiệp chung mà tất cả chúng sanh có quyền thừa hưởng trọn.
(Phẩm Tín giải thứ 4)
* Tùy hỉ rằng: Sự thật trước sau, Phật chỉ dạy cho tất cả đệ tử của mình về pháp Đại Thừa. Nhưng tùy căn cơ chủng tánh, nghe ra có Tiểu, có Trung, có Đại khác nhau. Như một trận mưa tuôn chỉ có một vị đượm nhuần mát mẻ, thế mà cây cổ thụ, cây lựu, cây lê, cây lúa mạ tùy sức hấp thụ mà giống cây có to, có vừa, có bé không đồng.
(Phẩm Dược Thảo Dụ số 5)
* Tùy hỉ rằng: Ông Xá Lợi Phất là người đầu tiên trong hàng Thanh văn, được thọ ký thành Phật. Giờ đây ông Đại ca diếp, ông Tu bồ đề, ông Ca Chiên Diên, ông Mục kiền Liên cũng được thọ ký thành Phật. Vì sự thọ ký không phải là sự thi ân riêng rẽ của Phật dành cho người đệ tử dễ thương nào. Cũng không phải là lời tiên tri may rủi hay ước lượng, dự đoán, phỏng chừng. Mà thọ ký là nói lên một sự thật tất yếu tất nhiên vốn vậy
của tất cả mọi người. Cho nên rồi đây 500 đại đệ tử cũng sẽ được thọ ký. Những người hữu học, vô học cũng được thọ ký. Nói thẳng ra , tất cả chúng sanh đều được thọ ký thành Phật với cái vốn liếng Phật tánh sẵn có của mình.
(Phẩm Thọ Ký thứ 6, 8, 9)
* Tùy hỉ rằng: Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa là kinh giáo Bồ tát pháp, Phật sở hộ niệm. Tu học Diệu Pháp Liên Hoa kinh, mới đi cuối con đường Phật, mới đến nơi Bảo sở. Không tu học kinh Pháp Hoa, dù có được Niết bàn nhưng đó là hóa thành, đó là quyền biến phương tiện của một đạo sư….
(Phẩm Hóa Thành Dụ thứ 7)
* Tùy hỉ rằng: Những người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói và tùy hỉ kinh Diệu Pháp Liên Hoa đều được gọi là Pháp Sư. Họ không phải là người thường, vì người thường không thể nghe, không thể chấp nhận nổi kinh nầy. Họ là những người được Phật thọ ký thành Phật, được Như Lai lấy y mà trùm, lấy tay mà xoa đầu. Họ là sứ giả Như Lai.
(Phẩm Pháp Sư thứ 10)
* Tùy hỉ rằng: Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường trụ. Đa Bảo Như Lai và Tháp là Phật pháp thường trụ về mặt thời gian. Phân thân Phật nhiều bất khả thuyết, bất khả thuyết vô lượng vô biên a tăng kỳ hằng hà sa của Thích Ca Mâu Ni Phật và cây báu…là Phật pháp thường trụ về mặt không gian đó…
(Phẩm Hiện Bảo Tháp thứ 11)
* Tùy hỉ rằng: Đề Bà Đạt Đa thuộc hạng “Nhứt xiển đề” mà được thọ ký thành Phật, thì tất cả chúng sanh không phải “Nhứt xiển đề” thừa khả năng tu hành thành Phật. Long Nữ thành được Phật thì tất cả người nữ thừa khả năng tu hành thành Phật.
(Phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ 12)
* Tùy hỉ rằng: Trì Kinh Pháp Hoa ở cõi Ta bà có khó khăn nhung có sức cố gắng, có khả năng, có phát tâm dũng mãnh vẫn làm được, như Bồ tát Dược Vương và Bồ tát Đại Nhạo Thuyết đã phát nguyện trì.
(Phẩm Khuyến trì thứ 13)
* Tùy hỉ rằng: Hành xứ, thân cận xứ, an lạc hạnh, đại bi tâm là bốn điều kiện cần có
để cho Pháp sư Pháp Hoa hoàn thành công hạnh tự lợi, lợi tha viên mãn.
(Phẩm An Lạc Hạnh thứ 14)
* Tùy hỉ rằng: Khả năng tu tập của mình là nhân tố quyết định thành công. Đừng hy vọng trông nhờ ở tha nhân nào khác. Nếu có sự giúp đỡ của tha nhân bằng tám lần thành công, thì sự cố gắng nổ lực của mình gấp mười hai vạn lần hơn hảo ý của tha nhân cảm tình giúp đỡ. Phải phát triển nghị lực sẵn có của chính mình và sự thật, mỗi người đều có khả năng nghị lực đó.
(Phẩm Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất thứ 15)
* Tùy hỉ rằng: Thọ mệnh Như Lai vĩnh cửu ở thời gian vô tận, không gian vô cùng. vì “Như Lai giả tức chư pháp như nghĩa. Nhược hữu nhơn ngôn: nhược lai, nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa, thị nhơn bất năng giải ngã sở thuyết nghĩa. Như Lai giả vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ, cố danh Như Lai.
(Phẩm như Lai Thọ Lượng thứ 16)
* Tùy hỉ rằng: hiểu kỹ, hiểu đúng, ý thú về Như Lai Thọ Lượng tức là hiểu kỹ, hiểu
đúng về Phật tánh, về Như Lai Viên Giác diệu tâm của mình.
Phát hiện trong quặng có vàng, sẽ nấu lọc quặng để lấy vàng. Biết mình có Như Lai Viên giác diệu tâm sẽ gạn lọc cặn bã vô minh để lấy Phật tánh.
(Phẩm Phân Biệt công Đức thứ 17)
* Tùy hỉ rằng: Nghe Kinh Pháp Hoa mà sanh tâm vui mừng, tâm đắc là người không phải tầm thường. Nghe rồi thọ trì, đọc học, biên chép, giảng nói và tùy hỉ, khuyến khích cho nhiều người cùng nghe, cùng tu học là Bồ tát hạnh đã trưởng thành vượt bực rồi. Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác với người nầy chẳng còn xa. Người này đang ngồi tòa Bồ đề dưới bóng cây đạo.
(Phẩm Tùy Hỉ Công Đức thứ 18)
* Tùy hỉ rằng: Kinh Pháp Hoa là tối tôn tối thượng. Những người thọ trì, đọc học, biên chép, giảng nói và vui mừng tâm đắc với Kinh Pháp Hoa, sẽ được công to và phước đức rất nhiều. Tất cả đều được tôn vinh là “Pháp sư”.
Pháp sư Pháp Hoa là người có thể có được “Lục căn thanh tịnh” mà không cần thay đổi, hủy bỏ “lục căn vốn có của cha mẹ sanh ra”. “Lục căn thanh tịnh” thì “lục trần”, “lục thức” của Pháp sư Pháp Hoa cũng đều được thanh tịnh như vậy.
(Phẩm Pháp Sư Công Đức thứ 19)
* Tùy hỉ rằng: Câu nói của Bồ tát Thường Bất Khinh: “Tôi không dám khinh các
Ngài, rồi đây tất cả các Ngài đều sẽ thành Phật”. Câu nói đó là một âm vang sấm sét, réo gọi, thức tỉnh những ai còn mê mệt mơ hồ về Tri Kiến Phật và khả năng thành Phật của mình là thiệt thòi lớn lao hơn hết. Chàng Cùng tử sở dĩ đói khổ lang thang chỉ vì “khinh
mình”, vì không nhận biết ở vạt áo mình có viên minh châu vô giá. Ngày phát hiện ra viên bảo châu là ngày mình trở thành cự phú nhất đời.
(Phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát thứ 20)
* Tùy hỉ rằng: Phật chỉ là một con người. “Thành Phật” là ngườ đạt đến đỉnh cao vô thượng của trí tuệ. Nhận thức bằng “Phật tuệ” thì “Pháp giới bất nhị”. Quán sát bằng “Phật nhãn” thì “Pháp giới nhất chân”.
Ngày thành Phật là ngày toàn thân con người trở thành một khối “trí tuệ” sáng suốt, vén tan hết bóng tối vô minh trong mười phương quốc độ. Kinh nói: “Toàn thân Như Lai từng lỗ chân lông, phóng hào quang…”
(Phẩm Như Lai Thần Lực thứ 21)
* Tùy hỉ rằng: Giá trị Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ngang bằng với giá trị của quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Giữ gìn Kinh Pháp Hoa là giữ gìn quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác . Truyền bá Kinh Pháp Hoa cho tất cả chúng sinh tức là truyền trao quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho chúng sinh vậy.
Kinh Pháp Hoa là nền giáo lý cô đọng của công trình tu tập trải qua trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp mà nên, tu học Kinh Pháp Hoa tức là tu học về “Nhất thiết trí”, “Đạo chủng trí”, “Nhất thiết chủng trí”, “Vô sư trí”, “Tự nhiên trí” và “Phật tuệ vô thượng”.
Là Bồ tát, đệ tử Phật gần gũi, đọc học, biên chép, giảng nói và truyền bá Kinh Pháp Hoa là cách đền đáp thâm ân Phật cao quý nhất.
“Trong tất cả cung cách cúng dường, cúng dường “Pháp” là ưu việt hơn hết”.
(Phẩm Chúc Lũy thứ 22)
* Tùy hỉ rằng: Ví như người bệnh phải cầu thuốc để trị bệnh. Người tu tự coi mình là người đang mắc phải chứng bệnh vô minh. Muốn trị dứt chứng bệnh vô minh phải trải qua quá trình điều trị bằng “thuốc pháp”. “Vi rút chấp ngã” và “chấp pháp” là loại “vi rút” cực kỳ nguy hiểm. Từ đó sinh nhiều biến chứng: “tam độc”, “ngũ cái”, “thập triền” khiến cho chúng sanh đắm chìm lặn hụp trong ái hà, khổ hải, ưu bi….
Muốn được giác ngộ và giải thoát phải bồi dưỡng thiện pháp lâu dài cũng như phải hóa giải diệt trừ ác pháp lâu dài và cuối cùng phải tiêu hóa chúng với thời gian lâu dài cho đến khi nào cái chất “ngã tướng”, “nhân tướng”….tàn rụi hết mới thôi…
(Phẩm Dược Vương Bồ tát Bổn sự thứ 23)
* Tùy hỉ rằng: Hễ sử dụng Phật tuệ thì “Pháp giới bất nhị” cho nên thế giới “Nhất
Thiết Tịnh Quang trang nghiêm” của đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí hiện ra không xa.
Diệu Âm Bồ tát là “nhân cách hóa” cái âm thanh mầu nhiệm của cõi lòng thanh tịnh. Do vậy, khi cõi lòng thanh tịnh thì “cõi đất tâm” đẹp đẽ trang nghiêm thanh tịnh.
Diệu Âm Bồ tát đến cõi Ta bà đẹp đẽ trang nghiêm thanh tịnh. Diệu Âm Bồ tát trở về
bản độ thì cõi Ta bà trở lại trạng thái uế độ như cũ.
(Phẩm Diệu Âm Bồ tát Vãng lai thứ 24)
* Tùy hỉ rằng:
Diệu Âm Quán Thế âm Phạm Âm, Hải triều âm Thắng bỉ thế gian âm Thị cố tu thường niêm
Niệm niệm vật sanh nghi
Quán Thế Âm tịnh thánh
Có nghĩa là Diệu Âm Quán Thế âm. Quán Thế Âm tức Diệu Âm, chỉ khác ở chỗ Diệu Âm có lúc đi đến, có lúc trở về còn Quán Thế Âm thì giữ lại không đến không đi, Do vậy,
niệm Quán Thế Âm liên tục là cách tu ưu việt hơn hết. Cho nên “Quán Thế Âm là Thánh của sự thanh tịnh.”
“…Phật xuất Ta bà giới Thử phương chân giáo thể Thanh tịnh tại âm văn
Dục thủ tam ma đề
Thực tùng văn trung nhập”
(Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn thứ 25)
* Tùy hỉ rằng: Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa là tạng kinh bí yếu của chư Phạt. Tu học, theo kinh Pháp Hoa là tu học viên giáo liễu nghĩa thượng thừa. Sống theo Kinh Pháp Hoa là sống theo chân lý, sống đúng chân lý. Vì vậy, mà các hàng Bồ tát, Thiên
Vương, Ma Vương, phát nguyện đem hết khả năng mình để hộ trì kinh, bảo hộ cho những ai thọ trì, đọc học, truyền bá kinh bằng những “Đà la ni” mà họ có.
“Đà la ni” là một thứ ngữ ngôn phủ định ngữ ngôn. Thứ ngữ ngôn “ngôn ngữ đạo đoạn”. Thứ ngữ ngôn nhằm đưa hành giả Pháp Hoa lên đỉnh cao “tâm hành xứ diệt”.
(Phẩm Đà La Ni thứ 26)
* Tùy hỉ rằng: Bồ đề tự tánh, ai cũng có thể trở về để thành Phật, nhưng việc thành Phật không mong cầu nóng vội, mà phải đoạn trừ phiền não có quá trình, chứng nhập “pháp thân” từng phần, sự giác ngộ giải thoát tiệm tăng từng mức độ: Vua Diệu Trang Nghiêm cách đây vô lượng kiếp, nay là Hoa Đức Bồ tát. Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn, xưa kia, nay là Bồ tát Dược Vương và Dược Thượng.
Ở phẩm “Tựa” thứ nhất Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh vốn là một nhà vua có tám người con. Nhà vua xuất gia tu thành Phật, sau đó độ cho tám người con ở trong Phật pháp làm nhiều phật sự.
Ở phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự” thứ 27, Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn hai người con xuất gia hành đạo chứng đắc tự tại thần thông rồi độ cho vua cha xuất gia tu hành thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Cải tạo A lại da trước, chuyển hóa tiền thất thức sau hoặc chuyển hóa tiền thất thức trước, cải tạo A lại da sau. Cách tu nào cũng đem lại kết quả được, tùy căn tánh của mỗi người.
(Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự thứ 27)
* Tùy hỉ rằng: Thọ trì, đọc, học Kinh Pháp Hoa là bồi dưỡng cái trí “năng tri”. Đem lại cho con người sự giải thoát, giác ngộ cốt yếu là ở nơi cái đức “năng hành”.
Bồ Tát Đại Trí Văn Thù tiêu biểu cho cái trí “năng tri” xuất hiện ở phẩm thứ nhất để khai
đạo giáo nghĩa Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
Bồ tát Đại hạnh Phổ Hiền cuối cùng mới xuất hiện để động viên tinh thần “hành giả
Pháp Hoa” với cái nhan đề “Phổ Hiền khuyến phát” thứ 28.
Điều đó nói lên: Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa không phải là thứ kinh để cho mọi người đọc tụng được phước, mà “hành giả Pháp Hoa phải là người “Tri”, “hành” hợp nhất mới đem lại kết quả lớn lao”.
Tóm lại, Tùy hỉ Kinh Pháp Hoa có nghĩa là vui mừng chấp nhận nội dung, tư tưởng toàn bộ giáo lý của hệ tư tưởng Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa để làm kim chỉ nam cho tiến trình tu tập của mình và trọng yếu đạt đến thành công là: “Tri hành hợp nhất”
(Phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát” thứ 28)








PHẨM 19
PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC
Lúc bấy giờ, Phật bảo Bồ tát Thường Tinh Tấn: Nếu có trai lành gái tín nào lãnh giữ kinh
Pháp Hoa này bằng cách đọc, tụng, giảng nói hoặc biên chép thì người đó:
* Về mắt sẽ được 800 công đức.
* Về tai sẽ được 1.200 công đức.
* Về mũi sẽ được 800 công đức.
* Về lưỡi sẽ được 1.200 công đức.
* Về thân sẽ được 800 công đức.
* Về ý sẽ được 1.200 công đức.

Dùng những công đức ấy mà trang nghiêm, bồi dưỡng, cải tạo sáu căn, thì sáu căn được thanh tịnh.
1. Nhãn căn công đức: Đôi mắt thịt cha mẹ sinh ra, khi thanh tịnh, thì thấy được tất cả núi rừng, sông biển trong ba ngàn đại thiên thế giới, thấp đến địa ngục A tỳ, cao đến trời hữu đảnh, cũng thấy được các chúng sanh trong các thế giới ấy, cùng những nghiệp nhân, nghiệp quả và những nơi sanh do quả báo quyết định. Tất cả những sự việc ấy đều thấy, đều biết với đôi mắt thanh tịnh của mình.
2. Nhĩ căn công đức: Đôi tai cha mẹ sinh ra, khi thanh tịnh, nghe được các thứ tiếng khắp ba ngàn đại thiên thế giới, như:
* Tiếng voi, ngựa, trâu, xe (thú vật).
* Tiếng khóc la, buồn than.
* Tiếng trống, tiếng loa, chuông lớn, chuông nhỏ.
* Tiếng cười, tiếng nói.
* Tiếng trai, tiếng gái, tiếng con nít, nam nữ.
* Tiếng pháp, tiếng chẳng phải pháp
* Tiếng khổ, tiếng sướng.
* Tiếng phàm phu, tiếng thánh nhơn.
* Tiếng đáng vui, tiếng chẳng đáng vui
* Tiếng trời, tiếng rồng, tiếng các hàng A-tu-la.
* Tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió.
* Tiếng địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.
* Tiếng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật.
Tóm lại, tuy chưa được thiên nhĩ, nhưng với đôi tai của cha mẹ sanh ra mà thanh tịnh thì tất cả các thứ tiếng trong ngoài ba ngàn đại thiên thế giới, đều nghe được và phân biệt từng loại nhưng không vì đó mà “nhĩ căn” bị hư hoại.
3. Tỷ căn công đức: Thọ trì kinh Pháp Hoa thì mũi được thanh tịnh, nhờ đó mà “nghe”
được các thứ mùi trong ngoài ba ngàn đại thiên thế giới và phân biệt được:
* Mùi các thứ hoa tu-mạn-na, xà đề, mạt lợi v.v..
* Mùi các hoa sen xanh, vàng, trắng, đỏ.
* Mùi cây có hoa, mùi hoa cây có trái.
* Mùi các thứ hương.
Lại rõ biết các thứ mùi chúng sanh như:
* Mùi thú vật (voi, ngựa, dê, trâu v.v..)
* Mùi trai, gái, rừng bụi, hoặc xa hoặc gần.
* Các mùi cây, hoa trên trời.
* Mùi nhân dân cõi trời ở các cung điện hưởng phước, hoặc ở diệu pháp đường nói pháp, hoặc khi dạo chơi.
Lại cũng nghe được:
* Mùi hương của chư thiên đốt.
* Mùi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật.
“Nghe” nhiều như thế, nhưng tỷ căn không bị hư và không lầm lộn. Nếu muốn phân biệt nói cho người khác nghe thì ghi nhớ không sai.
4. Thiệt căn công đức: Trì kinh Pháp Hoa thì lưỡi được thanh tịnh, nhờ đó mà:
* Cuối cùng không thọ ác vị.
* Thuyết pháp nói đến chỗ thâm diệu, thấu đến tâm người nghe, khiến họ vui mừng sướng thích và cảm hóa được chư Thiên và A-tu-la, hàng tu hành giàu có, sang trọng.
* Vì khéo nói pháp nên được họ hàng quyền quí, nhân dân theo hầu cúng dường và chư Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật ưa thấy và người nói pháp khéo ấy ở đâu thì được chư Phật xoay về phía đó mà nói pháp, nương đó mà có khả năng thọ trì tất cả các pháp Phật, lại có thể nói ra tiếng pháp thâm diệu.
5. Thân căn công đức: Trì kinh Pháp Hoa, sau khi Phật diệt độ thì thân được trong sạch như ngọc lưu ly, làm cho chúng sanh ưa nhìn xem. Như mảng gương sáng, thân ấy là thân thanh tịnh của Bồ tát, trong đó các sắc tượng đều hiện mà chỉ riêng mình thấy mà thôi. Các sắc tượng ấy hoặc là tất cả chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi, hoặc cung điện trên các cõi trời, hoặc địa ngục, hoặc Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật.
Tuy chưa được “Vô lậu pháp tánh diệu thân” nhưng nhờ thanh tịnh, cho nên tất cả đều hiện được trong cái nhục thân đó.
6. Ý căn công đức: Sau khi Phật diệt độ mà trì kinh Pháp Hoa thì được ý căn thanh tịnh. Dùng ý căn thanh tịnh đó mà nghe một bài kệ, một câu kinh cũng đủ thấu suốt vô lượng nghĩa, hiểu rõ diễn nói cả tháng, cả năm cũng được; mỗi pháp nói ra có thể có những nghĩa thú riêng nhưng tất cả đều nói đúng với “Thật tướng”. Thậm chí khi bàn nói đến sách vở ngoài đời, cách xử thế tiếp vật hay nghề nghiệp sanh nhai, cũng vẫn thuận với chánh pháp. Lại nữa còn biết được những hành động, lời nói đùa trong tâm của sáu đường chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới.
Dầu chưa đặng trí tuệ vô lậu, nhưng ý căn thanh tịnh thì tất cả suy nghĩ, tính lường lời nói đều đúng với lời Phật dạy, không chỗ nào là không chân thật và đúng với lời nói của chư Phật trong quá khứ.
THÂM NGHĨA
Gọi là Pháp sư Pháp Hoa, gồm năm hạng người: Thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng diễn và tùy hỉ.
Nói rằng công đức Pháp sư, kỳ thật nói về công đức sáu căn của pháp sư vậy. Tu học Pháp Hoa, sáu căn của pháp sư sẽ thanh tịnh. Do sáu căn thanh tịnh mà có được công đức, nói cách khác là có được những đặc điểm ưu việt của sáu căn, khác hơn người thường.
* Mỗi căn công đức ít nhiều, do căn đó bén nhạy hay là chậm lụt.
- Nhãn căn có thể thấy một nửa phía trước, những gì thuộc nửa sau, không thấy. Luận về
công đức chỉ được 800.
- Nhĩ căn có những đặc tính “Viên, Thông, Thường”, công năng của nó rất ưu việt. Luận về công đức được 1.200.
- Tỷ căn khi thở ra hít vào chặng giữa có khuyết, công đức chỉ chỉ được 800.
- Thiệt căn là mọng mạ của tâm. Lưỡi nói, chỉ là sự thể hiện của tâm. Vận dụng thiệt căn giảng diễn chánh pháp có thể dẫn dắt con người từ triền phược đến giải thoát, từ mê mờ đến giác ngộ. Luận về công đức lưỡi được 1.200.
- Thân căn tùy thuộc sự hiệp ly, công năng thụ động. Luận về công đức chỉ được 800.
- Ý căn là cơ quan động lực của tư duy, tác động qua lại giữa tiền trần cảnh giới. Ý rất bén nhạy và lanh lợi.
“Động thân pháp ngữ độc vi tối. Dẫn mãn năng chiêu nghiệp lực khiên”.
(Khởi động về thân, phát xuất lời nói chủ động ở ý căn. Thúc đẩy chúng sanh thọ sanh trong sáu nẻo chủ động cũng do ý căn)
Luận về công đức, ý căn được 1.200.
* Vạn loại hữu tình, vô tình sanh tồn, trưởng dưỡng luôn luôn quyện chặt với 3 thời: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai. Và 4 hướng: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Đem thời gian phối hợp với không gian ta thấy 3 x 4 hay 4 x 3 = 12. Đó là con số được biểu trưng đơn vị công đức. Đem số 12 phối hợp với 10 pháp giới vốn có ở một tâm chúng sanh, ta sẽ thấy: 12 x 10=120. Mỗi pháp giới hiện hữu và tồn tại với qui luật tất
nhiên của 10 “như thị”. Đem 120 phối hợp với 10 như thị sẽ có 120 x 10=1.200 công đức.
Đó là thứ tá dược ngữ ngôn để diễn tả công đức thanh tịnh của sáu căn hơn kém.
* Lục căn mà thanh tịnh thì lục trần cũng thanh tịnh. Trần thanh tịnh thì lục thức cũng thanh tịnh. Căn, trần, thức thanh tịnh thì:
- Thấy tất cả mà như không thấy gì hết; không thấy gì hết mà thấy tất cả.
- Nghe tất cả mà như không nghe gì hết; không nghe gì hết mà nghe tất cả.
- Ngửi tất cả mà như không ngửi gì hết; không ngửi gì hết mà ngửi tất cả.
- Nếm tất cả mà như không nếm gì hết; không nếm gì hết mà nếm tất cả.
- Xúc tất cả mà như không xúc gì hết; không xúc gì hết mà xúc tất cả.
- Biết tất cả mà như không biết gì hết; không biết gì hết mà biết tất cả. Vì sao vậy ?
Vì sáu căn là sắc. Sáu trần cũng là sắc. Nội sắc hay ngoại sắc cũng chỉ là sắc. Cho nên Pháp sư Pháp Hoa thấy suốt, nghe suốt, ngửi suốt, nếm suốt, xúc suốt, biết suốt không phải là việc khó nói khó hiểu. Vì Pháp sư Pháp Hoa còn có thể hiểu biết suốt cả tâm pháp. Tâm sỡ hữu pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp nữa mà.
* Nghe công đức Pháp sư người ngoại cuộc có thể cho là việc khó tin. Kinh Pháp Hoa nói chuyện hoang đường….
Xin thưa: Đó là sự thật. Nhưng muốn biết sự thật đó cần phải có sự thân chứng. Tôi nói
“thân chnứg” không phải cái gì cao xa ghê gớm lắm đâu.
Bạn chỉ thử uống một bữa tiệc rượu hơi nhiều đi, để bạn “thân chứng” về cái sự hoành hành tàn phá trí tuệ và cơ thể của bạn. Nếu bạn không uống say mà bạn chỉ nói về tác
hại của say rượu, bạn có khéo diễn tả thế nào cũng không bao giờ chính xác được, vì bạn chưa “thân chứng” vậy.
Cũng vậy, Pháp sư Pháp Hoa tu tập, khi sáu căn thanh tịnh rồi thì sự nhận thức về thế giới xa rộng hơn, trong sáng hơn, toàn diện hơn người thường. Đó là việc có thật, nhưng ai có thân chứng mới biết.
* Tìm hiểu đại lược về công năng của sáu căn, khi trở thành thanh tịnh:
- Đôi mắt cha mẹ sinh ra, khi thanh tịnh thì thấy được tất cả núi rừng, sông biển trong ba ngàn đại thiên thế giới, thấp đến địa ngục A tỳ, cao đến trời hữu đảnh. Cũng thấy được
tất cả nghiệp nhân, nghiệp quả thiện ác của chúng sanh trong ngần ấy thế giới bằng đôi mắt thanh tịnh của mình.
- Đôi tai cha mẹ sinh ra, khi thanh tịnh, nghe được tất cả các thứ tiếng khắp ba ngàn đại thiên thế giới, như:
* Tiếng khóc la, buồn than.
* Tiếng voi, ngựa, trâu, xe.
* Tiếng trống,chuông, linh ốc.
* Tiếng cười, nói, trai, gái, đồng nam, đồng nữ.
* Tiếng pháp, phi pháp
* Tiếng khổ, vui.
* Tiếng phàm phu, thánh nhơn.
* Tiếng đáng vui, tiếng chẳng đáng vui
* Tiếng trời, rồng, A-tu-la.
* Tiếng lửa, nước, gió.
* Tiếng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
* Tiếng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật.
Dù chưa được thiên nhĩ, nhưng nghe và phân biệt từng loại âm thanh mà nhĩ căn không bị hư hoại.
- Tỷ căn cha mẹ sanh ra khi thanh tịnh, “nghe” được các thứ mùi trong ngoài ba ngàn đại thiên thế giới và phân biệt:
* Mùi các thứ hoa tu-mạn-na, mạt lợi, chiêm bặc, ba la la.
* Mùi các thứ hoa sen xanh, vàng, trắng, đỏ.
* Mùi cây có hoa, mùi hoa cây có trái.
* Mùi các thứ trầm thủy, chiên đàn..
Lại rõ biết các thứ mùi chúng sanh mê như:
* Mùi thú vật
* Mùi trai, gái, đồng nam, đồng nữ.
* Mùi cỏ cây, rừng bụi xa gần.
Lại cũng nghe được các mùi cây hoa cõi trời như:
* Mùi nhân dân cõi trời, hoặc ở Diệu Pháp đường nói pháp, hoặc lúc dạo chơi.
* Mùi hương của chư thiên đốt.
* Mùi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật.
Bằng tỷ căn của mình, nghe biết phân biệt như thế mà tỷ căn không bị hư hoại. Khi cần nói cho người khác biết, nhớ kỹ, nói không lầm.
- Thiệt căn của cha mẹ sanh ra, khi thanh tịnh tất cả các thức ăn uống, ngon dở, tốt xấu đều trở thành ngon ngọt như cam lồ. Ở trước đại chúng nói pháp, nói ra những ý nghĩa sâu xa mầu nhiệm rót vào lòng đại chúng, khiến mọi người vui mừng, sung sướng. Cảm hóa đến Thiên long bát bộ, đến hàng trí thức, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ đều vui mừng nghe pháp.
- Thân căn cha mẹ sanh, khi thanh tịnh trong sạch như lưu ly làm cho chúng sanh ưa thấy. Vì thân trong sạch, nên chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới với bao nhiêu nghiệp duyên sanh, tử, thiện, ác đều hiện rõ trong thân. Dưới là địa ngục a tỳ, trên đến trời Hữu đảnh, tất cả cảnh vật cùng các loại chúng sanh hiện rõ, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật thuyết pháp đều hiện rõ trong thân thanh tịnh đó.
- Ý căn khi thanh tịnh, Pháp sư nghe một bài kệ, một câu kinh cũng đủ thấu suốt vô lượng nghĩa và có thể diễn nói cả tháng, cả năm cũng không cạn ý. Mỗi pháp nói ra có đủ ý thú riêng, nhưng tất cả đều đúng với “thật tướng” (Thật tướng vô tướng, Vô tướng bất tướng, cố danh thật tướng). Thậm chí luận bàn sách vở ngoại đạo, nói chuyện tế thế an bang, tiếp nhân đãi vật, cũng đều thuận với chánh pháp. Lại còn biết được lòng nghĩ tưởng, lòng động tác, lòng hí luận của chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới. Dầu chưa được trí tuệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh rồi thì người đó suy nghĩ, tính lường, nói năng điều chi đều là Phật pháp, hợp với lời trong kinh của chư Phật nói trong quá khứ, cũng như chư Phật sẽ nói trong vị lai.






PHẨM 20
THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT
Lúc bấy giờ Phật bảo Bồ tát Đắc Đại Thế:
“Ngươi nay nên biết, nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di trì kinh Pháp Hoa mà bị mắng nhiếc chê bai, thì người mắng nhiếc chê bai mắc tội báu rất lớn, còn người trì kinh được công đức thanh tịnh lục căn.
Này Đắc Đại Thế ! thuở xưa cách nay vô lượng vô biên số kiếp, có Phật hiệu Oai Âm Vương ra đời, nhằm thời kiếp Ly suy, tại nước Đại Thành. Phật vì người cầu quả Thanh Văn, nói Pháp Tứ đế; vì người cầu quả Bích Chi Phật, nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên;

vì hàng Bồ tát cầu Vô thượng giác, nói pháp sáu Ba la mật dẫn dắt đến cứu cánh Phật tuệ.
“Đắc Đại Thế ! Phật Oai Âm Vương sống lâu 40 ức na do tha hằng sa kiếp ! Chánh pháp của Phật trụ trong một số kiếp nhiều như vi trần của một thế gian ! Tượng pháp trụ trong một số kiếp nhiều như vi trần của bốn châu. Sau khi Phật Oai Âm Vương diệt độ, Chánh pháp, Tượng pháp diệt hết có đức Phật khác ra đời, cũng có một hiệu là Oai Âm Vương. Sau đó, tuần tự, có hai muôn ức Phật ra đời cùng một danh hiệu.
Phật Oai Âm Vương đầu tiên diệt độ và sau lúc Chánh pháp diệt hết trong thời Tượng pháp, các Tỳ kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn. Bấy giờ có một Bồ tát tên Thường Bất Khinh. Sở dĩ có tên nầy là vì mỗi khi gặp các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Bồ tát lễ lạy khen ngợi: “Tôi rất kính quý vị, không dám khinh quý vị. Vì quý vị đều đi trên đường Bồ tát và sẽ được thành Phật”. Bồ tát Thường Bất Khinh không hề đọc kinh điển, chỉ thực hành việc lễ bái, thậm chí hễ xa thấy tứ chúng là lạy nói: “Tôi không dám khinh quý vị. Vì quý vị đều sẽ được thành Phật”.
Trong tứ chúng có người lòng bất tịnh, giận mắng:
“Ông vô trí Tỳ kheo ở đâu đến mà nói tôi chẳng dám khinh quý vị, rồi lại thọ ký cho chúng tôi sẽ thành Phật; chúng tôi không dùng lời thọ ký bá láp đó đâu”.
Tuy trải qua nhiều năm bị mắng nhiếc, Bồ tát Thường Bất Khinh không giận hờn, cứ luôn nói: “Quý vị sẽ làm Phật”. Lắm khi bị đánh bằng gậy, bị ném gạch đá, Bồ tát chạy tránh
ra xa, miệng vẫn nói: “Tôi chẳng dám khinh quý vị, quý vị đều sẽ thành Phật”. Vì đó mà ông được gọi tên là Thường Bất Khinh.
Lúc Bồ tát Thường Bất Khinh sắp mệnh chung, trong hư không nghe trọn hai mươi ngàn muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa của Phật Oai Âm Vương đã nói thuở trước. Nghe xong Bồ tát sống thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi, vì người rộng nói kinh Pháp Hoa.
Lúc đó, những người trong tứ chúng trước kia đã khinh rẻ Bồ tát Thường Bất Khinh, nay thấy Bồ tát được sức thần thông, sức nhạo thuyết biện tài, sức đại thiện tịch và nghe Bồ tát thuyết pháp, đều tin phục và theo làm đệ tử.
“Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa ngàn muôn chúng sanh khiến không suy thoái trên đường Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những chúng sanh ấy, sau khi mệnh chung, được gặp hai ngàn ức Phật đồng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh trong hội Pháp Hoa. Nhờ nhân duyên đó, những chúng ấy gặp lại hai ngàn Phật đồng hiệu Vân Tư Tại Đăng Vương ở trong pháp hội của các đức Phật đó thọ trì, đọc tụng vì hàng tứ chúng nói kinh Pháp Hoa, do vậy mà sáu căn được thanh tịnh, thuyết pháp cho tứ chúng nghe mà không sợ sệt.
“Này Đắc Đại Thế ! Bồ tát Thường Bất Khinh thuở ấy đâu phải người nào lạ ! Chính là thân ta hiện nay vậy. Nếu đời trước ta chẳng thọ trì, đọc tụng và giải nói cho người khác nghe kinh nầy, thì ta chẳng thể mau được quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vì ta đã ở trong cõi nước của chư Phật, thọ trì, đọc tụng, vì người khác nói kinh nầy, nên mau được quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.
“Này Đắc Đại Thế ! những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thuở ấy, vì khinh tiện ta, nên trong hai trăm ức kiếp luôn luôn chẳng gặp Phật, chẳng gặp Pháp, chẳng thấy Tăng, ngàn kiếp ở địa ngục chịu khổ não lớn. Hết tội rồi, lại gặp Bồ tát Thường Bất Khinh giáo hóa cho đạo quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.
“Này Đắc Đại Thế, bốn chúng đã khinh khi Bồ tát Thường Bất Khinh nào phải ai lạ, chính đó là những người hiện nay đều là bậc bất thối chuyển trên đường chánh giác, tức là bọn 500 Bồ tát của Bạc-đà-bà-la, bọn 500 Tỳ kheo của Sư tử Nguyệt, bọn 500 Ưu bà tắc của Ni Tư Phật, đang ở trong pháp hội nầy”.
“Này Đắc Đại Thế, phải biết kinh Pháp Hoa này rất lợi ích cho các Đại Bồ tát có thể giúp họ đến Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên sau khi Phật diệt độ, phải thường thọ trì, đọc tụng, giải nói”.
Đức Phật bèn đọc một bài kệ nhắc lại nghĩa trên.
THÂM NGHĨA
Thường Bất Khinh là danh hiệu do các Tỳ kheo và những người Tăng thượng mạn đặt, để tặng cho người với ác ý mỉa mai khinh thị. Nhưng với hệ giáo lý thuần viên độc diệu của Pháp Hoa, Thường Bất Khinh Bồ tát là một âm thanh réo gọi, thức tỉnh những ai còn mê mệt, mơ hồ về Tri Kiến Phật, và khả năng thành Phật của mình.
Trong tất cả thứ khinh, khinh khả năng thành Phật của mình là tai họa, là thiệt thòi lớn lao hơn hết. Chàng cùng tử sở dĩ đói khổ lang thang, chỉ vì không nhận biết ở vạt áo mình có hạt bảo châu vô giá.
Vấn đề khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Vấn đề Phật thọ ký tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật, đến đây càng thấy rõ, những vấn đề đó đã có từ thời Phật Oai
Âm Vương, mà người truyền bá tích cực cái chân lý đó, là Bồ tát Thường Bất Khinh vậy.
Phật Oai Âm Vương xuất thế độ sanh hai muôn ức Phật tiếp nối ra đời có cùng một hiệu
Oai Âm Vương như vậy. Sự việc đó, nhằm nói lên cái ý:
Tâm trước tâm sau là một.
Chân lý trước chân lý sau không khác.
Đề cập sự kiện Oai Âm Vương Phật ở phẩm 20 là một dấu hiệu chỉ dẫn hướng đi, để dẫn đến hành pháp, cách tu quán niệm “Diệu Âm” và “Quán Thế Âm” ở phẩm 24 và 25 sau nầy.
Vấn đề âm văn là vấn đề quan trọng bậc nhất, vì phù hợp căn cơ chúng sanh ở cõi Ta bà, sau khi so sánh 25 cách tu qua 18 giới và 7 đại, đúc kết thành quả, Bồ tát Văn Thù bạch Phật:
“Phật xuất Ta bà giới Thử phương chân giáo thể Thanh tịnh tại âm văn
Dục thủ tam ma đề
Thực tùng văn trung nhập” Dịch:
Cách giáo hóa cõi nầy Bén nhạy ở âm văn Muốn được tam ma đề
Phải từ nghe mà nhập (Kinh Thủ Lăng Nghiêm)
Oai Âm Vương Phật, phải được hiểu là Phật tâm, tiếng lòng trong trắng của con người, khi con người còn “oai quyền”, còn khả năng tự chủ. Phật xuất hiện ở kiếp Ly Suy, nghĩa là ở vào thời điểm mà tâm không có các suy tàn bệ rạc: Tham, sân, si, mạn….Đó là thời điểm Phật Oai Âm Vương hiện ở lòng ta. Và cũng chính lúc đó là lúc Oai Âm Vương Phật ở nước “Đại Thành” viên mãn nhất.
Nếu là thời kỳ chánh pháp, những Tỳ kheo tăng thượng mạn chưa có cơ hội thao túng hoành hành. Bồ tát Thường Bất Khinh ở vào thời kỳ tượng pháp bấy giờ tăng thượng mạn Tỳ kheo….có thế lực lớn mới áp đảo người lành, chỉ vì cái tội nói lên sự thật:
“Tôi không dám khinh các Ngài
Vì các Ngài đều sẽ thành Phật”.
Tu nhơn thành Phật, cốt ở chỗ nhận thức chân lý rồi thực hành những gì phù hợp quy luật của chân lý. Nhận thức rõ quặng vàng rồi đem đốt, nung nấu, lọc thì vàng ròng sẽ hiển hiện ra. Bồ tát Thường Bất Khinh là người thực hành chân lý chỉ dạy ở kinh, mà không chuyên đọc tụng kinh điển qua ngữ ngôn văn tự.
Tế Thiên Hòa thượng nói: “Tụng kinh giả minh Phật chi lý” (Tụng kinh cốt để hiểu lý
Phật dạy cái gì).
Phải “sắp chết”, có khi cần phải chết thật cũng nên. Có chết đi cái cũ kỹ, cái hạn hẹp, cái ô trược để có cái mới mẻ hơn, cái thanh tịnh hơn. Bồ tát Thường Bất Khinh chỉ qua một cơn “sắp chết” mà thâm nhập Pháp Hoa tam muội, vượt hơn gấp hai mươi ngàn muôn ức lần. Qua một cơn “sắp chết” để rồi sống thêm hai muôn trăm ức na do tha tuổi, để vì người giảng nói Pháp Hoa. Đó là sự phủ định để tiến lên theo đường xoắn ốc trong quá trình tu tập vậy.
Chánh nghĩa sẽ thắng mặc dù quá trình tranh đấu có gian khổ gay go. Chân lý sẽ thắng mặc dù bọn người tăng thượng mạn, bọn người lợi dưỡng, bọn người kiến thủ áp đảo lấn lướt một thời. Bồ tát Thường Bất Khinh thành công trong giải thoát tự tại, trong đại thiện tịch của mình. Nhóm người tăng thượng mạn…cuối cùng quay về quy thuận phục tùng chân lý.
Chánh nghĩa sáng ngời, chân lý luôn luôn tỏ rạng. Bồ tát Thường Bất Khinh an nhiên tự tại giảng kinh Pháp Hoa ở pháp hội của hai muôn ức Phật cùng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Và trong pháp hội của hai nghìn Phật cùng hiệu Vân Tự Tại Vương. Nói trắng ra: Bồ tát Thường Bất Khinh đường hoàng tự tại giảng nói kinh Pháp Hoa hướng dẫn chúng sanh đi trên con đường Phật, dưới bầu vũ trụ thênh thang, trời quang mây sáng, từ kiếp nầy sang kiếp khác, để hoàn thành sứ giả Như Lai, bồi dưỡng mãi lên cái nhân thành Phật của mình.
Những người mắng nhiếc đánh đập Bồ tát Thường Bất Khinh, nghìn kiếp ở địa ngục a tỳ, hai trăm ức kiếp không gặp Phật -Pháp – Tăng. Đó là điều chí lý. Bởi vì, họ không chịu
sống trong chân lý, trong ánh sáng thì họ sống trong mê mờ, trong bóng tối vậy. Sống trong mê mờ, trong bóng tối thì họ sẽ chịu khổ dài dài trong địa ngục A tỳ. Bởi vì A tỳ ngục có nghĩa là chỗ thọ khổ liên tục, không có lúc tạm xả hơi.
Không biết mình có Phật chất, không hiểu được Tri Kiến Phật của mình, thì đừng mong gì thấy Phật ở một nơi khác. Pháp và Tăng cũng vậy. Người Phật tử phải học kỹ ba pháp tự quy y:
- Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo phát vô thượng tâm.
- Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải.
-Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.
Hiểu rõ ý nghĩa tam tự quy y, ta cũng có gặp gỡ Phật – Pháp – Tăng thường xuyên trong
đời sống hằng ngày của ta đó.
Xưa kia là Bồ tát Thường Bất Khinh, nay là Phật Thích Ca hiện tại. Xưa kia là những người tăng thượng mạn Tỳ kheo và cư sĩ, nay là nhóm ông Bạt-đa-la năm trăm Bồ tát. Nhóm ông Sư Tử Nguyệt 500 Tỳ kheo. Nhóm ông Ni Tư Phật 500 Ưu Bà tắc.
Qua câu chuyện “bổn sanh, bổn sự” đó, người Phật tử thấy rằng: Gieo giống sớm thì thu hoạch sớm. Chần chờ ương hạt thì trái chín muộn hơn. Nhưng có cái vinh hạnh ưu việt chung cho tất cả mọi người. Dù sớm, dù muộn hạt giống Phật của mỗi người không đời nào mất !
Người Phật tử phải luôn luôn đừng khinh mình (Thường Bất Khinh). Mỗi chúng ta phải là một Bồ tát Thường Bất Khinh đối với chúng ta. Ngày đêm ta nên tự nhủ:
“Ngươi sẽ thành Phật”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

* Quý vị có thể để lại nhận xét, cảm nhận dưới mỗi bài viết nhưng:
- Không bàn luận đến chính trị của các quốc gia trên thế giới.
- Không được bàn luận hay phỉ báng bất kỳ tôn giáo nào khác.
- Không bàn luận tới sắc tộc gây chia rẽ các dân tộc trên toàn thế giới.
- Không viết những lời thô tục
- Không xúc phạm, chửi bới người khác
- Không đặt liên kết tới những Website đen, có chứa Vi rút hay những phần mềm có chứa mã độc hại
+ Chỉ bàn luận những lĩnh vực liên quan tới Phật Giáo.
+ Hãy giới thiệu Website này tới những người thân, bạn bè của quý vị. Những người không theo, sẽ theo và đã theo Đạo Phật đều có thể xem và tim hiểu trên Website này.
* Trân trọng cám ơn!