-->

Tìm Kiếm Trong Blog Tâm Linh Học

Loading

2011-08-19

Kinh Pháp Hoa-Phẩm 21-28


PHẨM 21
NHƯ LAI THẦN LỰC
Lúc bấy giờ, vô số Bồ tát đã từ đất vọt lên ở trước Phật, tất cả đều nhất tâm chấp tay, chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch rằng:
“Thế Tôn ! Sau Phật diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở xứ nào
mà phân thân Phật đã diệt độ hết. Bởi vì chúng con cũng muốn đọc tụng, biên chép, giảng nói để cúng dường “Đại pháp chân tịnh” nầy.

Lúc ấy, trước Phật Văn Thù Sư Lợi và vô lượng Bồ tát xưa kia ở thế giới Ta Bà, cùng các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và Thiên long, Bát bộ, Thế Tôn hiện sức thần thông lớn: le lưỡi rộng dài tới cõi trời Phạm thế và các lỗ chân lông phóng ra vô số hào quang đủ màu, khắp soi mười phương thế giới. Các đức Phật ngồi trên tòa sư tử, dưới cội cây báu, cũng làm như thế: le lưỡi rộng dài và phóng ra vô lượng hào quang.
Đức Phật Thích Ca và các đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn năm trăm ngàn năm, sau đó mới rút lưỡi vô và đồng thời tằng hắng, cùng chung khảy móng tay. Hai
tiếng vang đó lan khắp mười phương thế giới của chư Phật, Đại địa rung động sáu cách. Trời, rồng, dạ xoa…người và loài chẳng phải người v.v…nhờ sức thần Phật đều thấy cõi Ta bà vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức Phật ngồi trên tòa sư tử, dưới những cây báu, thấy Phật Thích Ca và Đa Bảo Như Lai ngồi trên tòa sư tử trong tháp báu. Lại thấy vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức Bồ tát và tứ chúng cung kính vây quanh Đức Phật Thích Ca. Tất cả đều vui mừng như được cái chưa từng có.
Ngay lúc ấy, chư thiên trong hư không lớn tiếng xướng lên: “Cách đây vô lượng thế giới, có nước tên là Ta bà, nơi ấy có Phật hiệu Thích Ca, hiện đang vì các Đại Bồ tát nói kinh Đại thừa tên “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Các ngươi nên vui theo trong thâm tâm, cũng nên lễ bái cúng dường Phật Thích Ca”.
Chúng sanh nghe thấy tiếng trong hư không ấy rồi, bèn chấp tay, quay về cõi Ta bà, cử
thanh niệm:
“Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !”
Rồi dùng các món hoa, hương, chuỗi ngọc, cờ, lọng, xa rải xuống thế giới Ta bà. Các vật rải đó, từ mười phương đến ví như mây đùn, biến thành một bức màn báu trùm khắp không gian, phía trên chư Phật. Bấy giờ, thế giới mười phương thông suốt với nhau, không gì ngăn ngại, quốc độ chư Phật trở thành “Pháp giới không hai”.
Lúc bấy giờ Phật bảo các Bồ tát bậc thượng hạnh rằng: “Sức thần thông của chư Phật vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn như thế. Nếu ta dùng sức thần thông ấy mà nói bày công đức của kinh Diệu Pháp Liên Hoa để lưu truyền về sau, thì dầu có trải qua vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức kiếp cũng chẳng nói hết. Tóm lại tất cả pháp của Như Lai, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả kho tàng bí yếu của Như Lai, tất cả những điều hết sức thâm sâu của Như Lai đều được tuyên bố, bày giải, nói rõ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Cho nên, sau Như Lai diệt độ, các ngươi phải một lòng thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, tu hành đúng theo lời kinh, hoặc chỗ nào có quyển kinh Pháp Hoa, bất luận nơi đó là: vườn, rừng, dưới cội cây, phòng chư tăng, nhà người thế tục, chỗ thờ Phật, núi hoang, đồng trống thì nên dựng tháp cúng dường. Phải biết chỗ có kinh đó là: đạo tràng,
là nơi chư Phật được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, là nơi chư Phật chuyển Pháp luân, là nơi chư Phật nhập Niết bàn.
Để lập lại nghĩa vừa nói, Thế Tôn nói một bài kệ.
THÂM NGHĨA
Như Lai thần lực là sức thần Như Lai.
Nói “sức thần Như Lai” là nói cái sức nhiệm mầu huyền diệu, sự giác ngộ chân lý tận cùng, sự giải thoát cứu cánh của con người đạt đến đỉnh cao trí tuệ. Sức thần Như Lai là kết quả của Giới, của Định, của Tuệ mà mọi người đệ tử Phật ai cũng có thể tu hành và thành tựu được sức thần đó. Cho nên, sức thần Như Lai không được hiểu lầm với “sức thần của Như Lai”. Bởi vì, nếu là sức thần “của Như Lai” thì mọi người không hy vọng nhờ cậy được gì. Phật “biểu diễn” sức thần là nhằm nhắc nhỡ cho hành giả Pháp Hoa và đề cao về tri kiến Phật của những người “Nhập Phật tri kiến” là thế đấy. Đạt đến đỉnh cao của trí tuệ, thể nhập “Phật tri kiến”, dùng sức tri kiến nầy mà quán sát thế giới
mười phương, thì thánh phàm không còn gì ngăn cách, chúng sanh và Phật đều thấy suốt
được nhau trong một pháp giới “nhất chân, bất nhị”.
Bằng tri thức của con người, qua quá trình tu tập Giới – Định – Tuệ, con người có thể đạt đến sức thần Vô thượng. Thể hiện khả năng đó, Thế Tôn ở trước Bồ tát, Bát bộ, Thiên Long và tứ chúng hiện sức thần. Bày tướng lưỡi rộng dài đến cõi trời Phạm Thế. Tất cả
lỗ chân lông phóng ra vô lượng, vô số hào quang đủ sắc màu, khắp soi khắp thế giới mười phương chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, có cả vô lượng phân thân Phật Thích Ca và chư Phật vị lai đều hiển hiện đồng thời. Sức Thần Như Lai là thế đấy.
Vô lượng hằng sa Bồ tát “tùng địa dũng xuất” pháp nguyện thọ trì truyền bá kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, sau Phật nhập diệt độ, điều phát nguyện đó rất chánh đáng. Thế tại sao Phật chẳng đề cập, chẳng nói năng gì ?
Sự kiện nầy có thể hiểu qua hai ý:
1. Theo tập quán thông lệ của Phật, khi có người tác bạch cúng dường hay thỉnh nguyện điều chi, nếu chấp nhận thì mặc nhiên không nói, không chấp nhận bấy giờ đức Phật mới nói lý do.
2. Chấp nhận bằng lối “mặc nhiên” ở đây còn có ý nghĩa sâu xa, tuy không nói mà nói rất nhiều. Rằng: “Bồ tát các ông chẳng những nên thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, tùy hỉ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng ngữ ngôn văn tự mà còn phải dẫn dắt chúng sanh đến chỗ ngôn vô ngôn ngôn, hành vô hành hạnh, nghĩa là nói bằng cách nói không lời, hành bằng cái hạnh vô hành nữa !
Lời nói của Như Lai là “chân chính”, là “thành thực”, lời nói trước sau như một, “lời nói không có ý xấu dối gạt” chúng sanh. Lời nói được đảm bảo bằng chân lý, có giá trị trùm khắp ba ngàn thế giới đại thiên. Như Lai hiện bày “tướng lưỡi rộng dài” (Quảng trường thiệt tướng là một trong 32 tướng tốt của đức Phật) để khẳng định với tất cả chúng sanh điều đó.
Hướng dẫn chúng sanh tu hành phương cách nào có kết quả tốt nhất:
Hãy tu cách quán niệm âm văn. Hãy niệm: Oai âm vương Phật, Diệu âm Bồ tát, Quán
Thế Âm Bồ tát mà đức Phật sẽ dạy kỹ sau nầy. bởi vì:
Phật xuất Ta bà giới… Thanh tịnh tại âm văn…
Phật Thích Ca và vô lượng vô số phân thân Phật, sau khi thu hoàn tướng lưỡi, cùng một lúc tằng hắng và khảy móng tay. Đó là cách trả lời, đồng thời là cách hướng dẫn cho vô lượng Bồ tát về công tác giáo hóa chúng sanh ở cõi Ta bà đó.
Chư Thiên và các hạng chúng sanh ở các cõi nước trong mười phương, hướng về cõi Ta bà tán thán Phật, tán thán Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa là rất đúng thời. Bởi vì sức thần Phật đến đây đã viên mãn. Từ trí tuệ nhận thức thế giới, phiến diện có đối tượng “năng”, “sở” hiển nhiên, từ phóng hào quang soi sáng nhận thức thế giới toàn diện, “pháp giới nhất chân”, “bất nhị”. Đó là quá trình tiến triển, lên tột đỉnh của con đường xoáy ốc rồi. Cho nên tất cả chư Thiên chấp tay hướng về cõi Ta bà niệm:
“Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật !”
Chỉ có kinh Pháp Hoa tuyên bày nói rõ tất cả thần lực Như Lai, tất cả tạng bí yếu Như Lai, tất cả việc sâu thẳm Như Lai. Cho nên, Bồ tát Thượng Hạn….các ông hãy thọ trì, đọc tnụg, như thuyết mà tu hành. Đức Phật nói tiếp:
Chỗ nào có quyển kinh nầy nên dựng tháp cúng dường. Chỗ đó là đạo tràng, các đức Phật ở đó mà được Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, các đức Phật ở đó mà chuyển pháp luân, các đức Phật ở đó mà nhập Niết bàn. Còn người nào tu học kinh nầy, thực hành đúng như lời kinh, nên chỉ người đó mà nói rằng:
“Ngài là Phật !”









PHẨM 22
CHÚC LỤY
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ tòa đứng dậy, hiện sức thần lớn, dùng tay mặt xoa đầu Vô lượng đại Bồ tát mà nói rằng:
“Trong vô lượng trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp, ta đã tu tập pháp Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khó được nầy nay đem giao cho các ngươi, các ngươi nên hết lòng truyền bá để đem lại sự ích lợi cho nhiều người”.

Đức Phật ba phen xoa đầu các Bồ tát và ba phen lập lại câu nói trên.
Như Lai có từ bi lớn, không tham tiếc cũng không có điều sợ sệt, năng cho chúng sanh trí tuệ Phật, trí tuệ Như Lai, trí tuệ tự nhiên. Như Lai là đại thí chủ của tất cả chúng sanh,
các ngươi nên thọ học theo pháp của Như Lai, chớ nên tham tiếc. Đời sau, nếu có trai lành gái thiện nào tin trí tuệ Như Lai thì ngươi nên vì những người ấy mà diễn nói kinh Pháp Hoa, để họ nghe biết tu hành, thành tựu được Phật tuệ. Nếu gặp hạng chúng sanh không tin lãnh lời kinh, thì nên dùng pháp khác trong các giáo pháp thâm diệu của Như Lai mà chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng. Làm được như thế là các ngươi có báo ân Phật rồi vậy.
Khi nghe Phật nói xong, các Đại Bồ tát đều cảm thấy sự vui mừng lan khắp thân thể. Lòng thêm cung kính, các Bồ tát nghiêng mình cúi đầu, chấp tay hướng Phật đồng bạch: “Chúng con sẽ làm đầy đủ theo lời Thế Tôn dạy, kính xin Thế Tôn đừng lo nghĩ nữa !”
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca truyền cho các phân thân Phật đã từ mười phương đến,
đều trở về nước mình và nói rằng:
“Chư Phật mỗi vị tùy chỗ an trú của mình mà trở về bổn độ, tháp của Phật Đa Bảo hoàn nguyên bản vị”.
Trong lúc Phật nói, mười phương vô lượng phân thân Phật đang ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu, cùng Phật Đa Bảo với vô biên vô số Bồ tát như Xá lơi phất v.v…hàng Thanh Văn bốn chúng và tất cả thiên, nhân, A tu la, nghe lời Phật nói đều rất vui mừng.
THÂM NGHĨA
Chúc lụy có nghĩa là dặn dò, ủy thác, là giao phó.
Trước khi chết, cha gọi các con dạy bảo những điều đạo đức cần có để sống ở đời. Trò sắp xa thầy, thầy truyền đạt cho những món nghề tâm huyết sâu xa trong học vấn…Ở đây Phật dặn dò ủy thác cho các Bồ tát “Phật sự” trọng đại , để lợi lạc chúng sanh. Ý nghĩa chúc lụy đại để giống lời cha, lời thầy dạy cho con, cho trò trước khi xa cách.
Bồ tát tâm nào cũng ở trong Phật tâm. Bồ tát hạnh nào cũng phát xuất từ Phật hạnh, cho nên Bồ tát dù đông vô lượng, nhưng vẫn ở trong “tầm tay” Phật mà thôi. Đó là ý nghĩa “Phật hiện sức thần lớn” xoa đảnh vô lượng Bồ tát.
Phật “chúc lụy” cho Bồ tát, những bậc thượng căn, thượng trí nên hiểu đó là câu chuyện: “lòng dặn lòng”.
Lời chúc lụy đầu tiên của Phật là ủy thác: “pháp Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khó được”. Các Bồ tát phải hết lòng lưu bố cho thêm nhiều, rộng.
Qua ba phen xoa đảnh vô lượng Bồ tát, Phật nói lên lời ủy thác lần hai: Ta ở trong vô lượng trăm ngàn muôn ức A tăng kỳ kiếp, tu tập pháp Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác khó được nầy, nay đem phó chúc cho các ông. Bồ tát các ông phải thọ trì đọc tụng tuyên nói pháp nầy cho tất cả chúng sanh đều được nghe biết.
Nếu là pháp Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì có gì thọ trì đọc tụng. Ở đây, Phật ba phen xoa đảnh Bồ tát dặn dò: Phải thọ trì đọc tụng mà truyền rộng thế có nghĩa là:
Pháp Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một.
Giá trị kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa ngang bằng giá trị Vô thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác vậy.
Cái đại sự nhân duyên xuất thế của Phật nhằm “mang đến cho” chúng sanh trí tuệ Phật, trí tuệ Như Lai, trí tuệ tự nhiên, Như Lai có lòng từ bi lớn, là thí chủ của tất cả chúng sanh, Như Lai không có lòng bỏn xẻn. Nếu có thiện nam tín nữ nào tin trí tuệ Như Lai, Bồ
tát các ông phải vì họ giảng nói kinh Pháp Hoa cho họ được nghe biết, nhằm khiến cho họ được trí tuệ Phật.
Tuy vậy, cũng không nên cố chấp khư khư một mực. Nếu có chúng sanh chưa tin nổi trí tuệ Phật thì có thể nói “Pháp Như Lai” sâu mầu khác, chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng. Làm được vậy là Bồ tát các ông, báo đáp được thâm ân chư Phật.
Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin đức Thế Tôn chớ có lo. Các Bồ tát ân cần trịnh trọng nói ba lần như vậy. Điều đó có nghĩa là các Bồ tát đã hiểu kỹ rằng: Thế nào là đền đáp thâm ân chư Phật của một Bồ tát rồi. Đã biết vai trò nhiệm vụ, một Bồ tát trưởng tử Phật, phải làm gì rồi. Đã biết giá trị kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa tầm vóc ngang bằng quả Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi vậy.
Phật tử chúng ta thọ trì, đọc tụng, tu học Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, đến đây đã biết
được gì rồi nhỉ ?








PHẨM 23
DƯỢC VƯƠNG BỒ TÁT BỔN SỰ
Lúc bấy giờ Bồ tát Tú Vương Hoa bạch Phật:
“Thế Tôn ! Làm thế nào mà Bồ tát Dược Vương du hành tự tại nơi thế giới Ta bà ? Bồ tát Dược Vương có bao nhiêu ngàn muôn ức hạnh khổ khó làm ? Nguyện Thế Tôn giải nói một ít cho Thiên Long, Bát Bộ, cho các hàng Bồ tát từ nước khác đến cùng hàng Thanh Văn ở đây nghe, để tất cả đều được vui mừng” ?
Phật đáp:

Trong quá khứ cách nay vô lượng hằng sa kiếp, có Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức. Ngài có tám mươi ức đại Bồ tát, bảy mươi hằng sa đại Thanh Văn, thọ bốn mươi hai ngàn kiếp, chư Bồ tát cũng sống lâu như thế. Trong nước của đức Phật ấy không có đàn bà, địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, A tu la v.v….cũng chẳng có các khổ nạn. Đất bằng lưu ly, mặt phẳng như bàn tay, có trồng cây báu trên có màn báu bao trùm, tràng phan,
hoa báu buông thònh. Khắp nước, bình báu, lò hương dẫy đầy. Cách mỗi cây khoảng một lằn tên có một đài bằng bảy báu. Dưới những cội cây ấy, có chư Bồ tát, Thanh Văn ngồi. Trên mỗi đài trăm ức chư Thiên trỗi nhạc trời, hát múa cúng dường Phật”.
Lúc bấy giờ, đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức nói kinh Pháp Hoa cho Bồ tát Nhất Thiết
Chúng sanh Hỉ Kiến, cùng các hàng Bồ tát, Thanh Văn nghe.
Bồ tát Hỉ Kiến ưa tu tập khổ hạnh, trong pháp của Phật Tịnh Minh Đức tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn 12.000 năm, được chánh định “Hiện nhất thiết sắc thân”. Bồ tát mới tự nói trong lòng: “Được chánh định nầy là nhờ nghe kinh Pháp Hoa. Vậy ta nên cúng dường Phật Tịnh Minh Đức và kinh Pháp Hoa”. Tức thời Bồ tát nhập định, trong hư không rưới các thứ hoa hương cõi trời cúng dường Phật.
Cúng dường xong, Bồ tát xuất định và tự nói trong lòng: “Tuy ta đã dùng thần lực cúng dường Phật, nhưng sao bằng lấy thân cúng dường”. Bồ tát liền uống các chất thơm, kế uống dầu làm bằng các thứ hoa thơm mãn 1.200 năm, rồi lấy dầu thơm thoa thân, dùng áo báu cõi trời quấn mình trước đức Phật Tịnh Minh Đức, rưới các thứ dầu thơm lên áo
và dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân. Ánh sáng tỏa soi tám mươi ức hằng sa thế giới. Trong ánh sáng ấy, chư Phật đồng thời đều khen: “Lành thay ! Lành thay ! Như vậy mới thật là tinh tấn, mới thật là cúng dường Pháp. Các lối cúng dường khác bằng hương hoa, chuỗi ngọc v .v….đều chẳng bằng, thậm chí đem cả một nước thành quách, vợ con mà bố thí cũng chẳng bằng. Trong các lối bố thí, bố thí thân là bậc nhất”.
Nói xong, chư Phật im lặng. Lửa thân Bồ tát cháy trót 1.200 năm mới tắt.
Cúng dường Pháp xong và sau khi mạng chung, Bồ tát Hỉ Kiến phục sanh trong nước Phật Tịnh Minh Đức, phục sanh một cách bỗng nhiên, trong trạng thái ngồi kiết già. Hóa sanh xong bèn vì cha đọc bài kệ:
Đại Vương nay nên biết ! Nhờ kinh hành nơi ấy Tức thời đặng tất cả
Chánh định trong các thân Sau cần cố gắng hơn Nên bỏ thân yêu mến
Dâng cúng duờng Thế Tôn
Để cầu tuệ Vô thượng
Nói xong, thưa với vua cha: “Trước cúng dường Phật Tịnh Minh Đức, tôi “giải được tất cả đà la ni của tiếng nói chúng sanh”, kế lại nghe vô số kệ của kinh Pháp Hoa, Nay Phật Tịnh Minh Đức vẫn còn, tôi xin cúng dường nữa, Bồ tát bèn ngồi lên đài bảy báu, bay lên hư không, qua đến chỗ Phật Tịnh Minh Đức, làm lễ và đọc một bài kệ khen Phật:
Lạ lùng thay dung nhan Mười phương soi ánh sáng Tôi đã từng cúng dường Nay lại còn thân kiến
Nói kệ xong, Bồ tát Hỉ Kiến bạch Phật Tịnh Minh Đức rằng: “Thế Tôn còn trụ thế chứ ?”.
Đức Phật bảo: “Giờ diệt độ đã đến, ngươi nên sắp đặt giường đi, ta trong đêm nay sẽ nhập Niết bàn”. Phật lại nói thêm: ” Ta nay giao phó Phật pháp và Vô thượng giác cho ngươi, cho các Bồ tát và các đại đệ tử. Ta cũng giao cho ngươi ba ngàn đại thiên thế giới, bảy báu, các cây báu, đài báu và chư thiên hầu hạ. Sau khi ta diệt độ, ta cũng giao cho ngươi tất cả xá lợi của ta, ngươi nên lưu bố khắp nơi để cho đông người được xây nhiều tháp cúng dường”. Đến cuối đêm, Phật Tịnh Minh Đức nhập Niết bàn.
Bồ tát Hỉ Kiến đã dùng gỗ chiên đàn làm giàn hỏa thiêu, thâu xá lợi đựng vào 84.000 bình báu, xây 84.000 ngọn tháp cao ba thế giới.
Bây giờ Bồ tát lại tự nghĩ: Cúng dường xá lợi như thế chưa đủ. Bèn ở trước 84.000 ngọn tháp, đốt hai cánh tay được trang nghiêm bằng trăm phước, suốt 72.000 năm, khiến vô số hạng cầu quả Thanh Văn và vô lượng người phát tâm cầu Vô thượng giác đều đứng vững trong chánh định “Hiện nhất thiết sắc thân”.
Các Bồ tát, trời, người, A tu la v.v…thấy vậy đều sầu khổ buồn thương. Bồ tát ở trong đại chúng, bèn lập thệ: Ta bỏ hai tay ắt sẽ được thân Phật. Nếu quả đúng như vậy, thì xin cho hai tay ta tự nhiên trở lại, ấy là nhờ phước đức và trí tuệ thuần hậu của Bồ tát.
Đức Phật Thích Ca hỏi Bồ tát Tú Vương Hoa: “Ý ngươi nghĩ sao ? Bồ tát Hỉ Kiến thuở xưa đâu phải ai lạ, chính nay là Bồ tát Dược Vương đó. Ông ấy đã xả bỏ, bố thí, vô lượng vô số thân như thế. Này Tú Vương Hoa, ai pháp tâm muốn được đạo Vô thượng mà đốt ngón tay hay ngón chân cúng dường Tháp Phật, còn hơn người dùng nước, thành, vợ, con cùng trân bảo trong 3.000 đại thiên thế giới mà cúng dường. Còn ai dùng bảy báu trong khắp 3.000 đại thiên thế giới mà cúng dường Phật, Bồ tát, Duyên Giác, La Hán, cũng không có công đức bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa, chừng một bài kệ bốn câu.
Tú Vương Hoa, trong các dòng nước, biển là bậc nhất. Cũng thế, trong các kinh của Như
Lai nói, kinh Pháp Hoa là sâu lớn hơn hết.
Trong các thứ núi, núi Tu di là bậc nhất. Trong các thứ kinh, kinh Pháp Hoa là cao hơn hết.
Trong các tinh tú, mặt trăng là bậc nhất. Trong các thứ kinh, kinh Pháp Hoa là sáng soi hơn hết.
Như mặt trời năng trừ mọi thứ tối tăm. Kinh Pháp Hoa năng phá tất cả những tối tăm của cái chẳng lành.
Trong các hàng Tiểu vương, Đại đế là bậc nhất. Trong các thứ kinh, kinh Pháp Hoa đáng tôn trọng hơn hết.
Như Đế Thích làm vua thống ngự 33 cõi trời. Kinh Pháp Hoa là vua các kinh.
Như là Phạm Thiên là cha của tất cả chúng sanh. Kinh Pháp Hoa là cha của tất cả Hiền
Thánh.
Trong hàng Phàm phu, Tứ Thánh và Duyên Giác là bậc nhất. Trong tất cả các kinh do
Như Lai, Bồ tát, Thanh Văn nói, Kinh Pháp Hoa là bậc nhất trong hàng chúng sanh.
Trong tất cả Thanh Văn và Duyên Giác, Bồ tát là bậc nhất. Trong tất cả các kinh, kinh
Pháp Hoa là bậc nhất.
Như Phật là vua các pháp, kinh nầy là vua của các kinh.
Tú Vương Hoa ! Kinh nầy có thể cứu tất cả chúng sanh, làm cho chúng sanh xa rời các khổ não. Kinh nầy có thể cho chúng sanh nhiều lợi ích, làm thỏa mãn những mong cầu của chúng sanh, như ao nước trong có thể làm thỏa mãn người khát nước. Như người lạnh được lửa, như trần truồng được quần áo, như đi buôn gặp người dẫn dắt, như con gặp mẹ, như muốn qua sông gặp thuyền, như bệnh gặp thầy, như tối được đèn, như nghèo được báu, như dân được vua, như hàng hải gặp biển, như đuốc trừ tối. Kinh Pháp Hoa nầy cũng thế, có thể làm cho chúng sanh xa lìa mọi thứ thống khổ, mọi thứ bệnh tật, có thể cởi mở sự trói buộc của sanh tử.
Ai nghe được kinh nầy, hoặc tự mình chép, hoặc bảo người chép, thì được công đức nhiều cho đến nỗi trí tuệ Như Lai cũng không ước tính được. Nếu chép kinh nầy mà còn dùng các thứ hoa hương, đèn dầu cúng dường, cũng được vô lượng công đức như thế.
Tú Vương Hoa ! Ai nghe phẩm “Bồ tát Dược Vương Bổn Sự” này cũng được vô biên công đức. Nếu là đàn bà thì sau khi dứt báo thân, không còn trở lại làm đàn bà nữa. Năm trăm năm sau Phật diệt độ, người nữ nào nghe kinh nầy và tu hành đúng theo lời kinh dạy, khi mạng chung, được vãng sanh nơi thế giới thanh tịnh và an lạc.
Bấy giờ, các đức Phật đồng xa khen: Hay thay ! Lành thay ! Này thiện nam tử, ngươi có thể trong pháp của Phật Thích Ca mà thọ trì, đọc tụng, suy gẫm Kinh Pháp Hoa và nói cho người khác nghe, ngươi đặng công đức vô lượng vô biên, lửa chẳng đốt được, nước chẳng làm trôi, phá được giặc ma, đánh bại quân sanh tử và diệt thù các quân thù khác.
Thiện nam tử, trăm ngàn đức Phật sẽ hộ trì ngươi, tất cả trời, người, không ai bằng ngươi, trừ Như Lai, không Bồ tát, Duyên Giác, Thanh Văn nào có trí tuệ bằng ngươi.
Ai nghe phẩm “Dược Vương Bổn Sự” này mà biết tùy hỉ khen ngợi, người đó trong đời hiện tại, miệng thường thoảng mùi thơm hoa sen, và các lỗ chân lông thường tiết mùi trầm.
Tú Vương Hoa, ta giao phó phẩm “Dược Vương Bổn Sự” cho ngươi. Năm trăm năm sau khi ta diệt độ, phải đem ra truyền bá nói rộn ở cõi Diêm phù đề và đem sức thần thông mà giữ gìn, vì đây là phương thuốc hay cho người bệnh thế gian, ai bệnh mà nghe được kinh này thì bệnh liền tiêu diệt, chẳng già, chẳng chết.
Thấy ai thọ trì kinh nầy, Tú Vương Hoa nên dùng hoa sen xanh đựng đầy hương bột rải trên người ấy và nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu quyết định sẽ trải cỏ ngồi nơi Đạo tràng, phá các ma quân, thổi ốc pháp, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng sanh ra khỏi sanh, già, bệnh, chết, ưu bi khổ não…..
Lúc đức Phật nói phẩm “Dược Vương Bổn Sự” nầy có 84.000 Bồ tát được đà la ni “Giải nhất thiết chúng sanh ngôn ngữ”.
Đức Phật Đa Bảo trong tháp báu khen Tú Vương Hoa Bồ tát: Lành thay ! Lành thay ! Tú Vương Hoa, ngươi thành tựu những công đức không thể nghĩ bàn mới hỏi được đức Phật Thích Ca việc như thế, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
THÂM NGHĨA
Dược Vương Bồ tát Bổn Sự là sự tích xa xưa của Bồ tát Dược Vương. Mật ý của phẩm kinh nầy. Phật dạy cho chúng sanh về “một phương thuốc chúa”. Bởi vì chúng sanh cõi Ta bà lắm bệnh nguy nan. Trong đó bệnh Chấp ngã, Chấp pháp là thứ bệnh gốc sinh ra các bệnh.
* Theo các tiền bối, bắt đầu từ phẩm Dược Vương là phần Nhập Phật tri kiến. Các
phẩm trước, hướng dẫn cho hiểu kỹ (ngộ) về Phật tánh. Đến đây, chỉ cách thực hành, làm cho Phật tánh thể hiện để sống trong Phật tánh ấy (Nhập Phật tri kiến).
* Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến ở vào thời Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức, cách vô lượng hằng sa số kiếp xa xưa, nhưng hiện nay là Bồ tát Dược Vương đệ tử Phật Thích Ca. Đó là một dữ kiện để tìm học hiểu về một phương thuốc chúa.
* Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến Bồ tát là vị Bồ tát mà ai thấy cũng dễ thương cũng vui mừng.
Muốn thành tựu “phương thuốc chúa”, trước hết chúng ta phải là một Bồ tát Nhất Thiết
Chúng Sanh Hỉ Kiến ấy.
* Tam muội: “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” của Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến được, là kết quả của quá trình tu học Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Bồ tát dám làm những hạnh khó, tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành phật ở thời Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai. Chính nhờ cái vốn liếng Diệu Pháp Liên Hoa đã tu học hồi xa xưa ấy, mà nay thành một phương thuốc chúa, một Bồ tát Dược Vương trong thời hiện tại.
“Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” có nghĩa là thứ tam muội “tự tại vô ngại” trước mọi hạng người, mọi căn cơ, chủng tánh của mỗi hạng chúng sanh. Nói cách khác: thứ tam muội “như như bất động” trước ngoại cảnh.
Phải cúng dường Phật, đem tất cả những thứ thơm tho nhất, quí giá nhất trong những thứ thơm tho để cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai. Cúng dường cho thật nhiều cho thường xuyên bền bỉ. Chẳng những thế, còn cúng dường luôn cả thân mạng nữa. Uống tất cả những thơm tho quí nhất vào cơ thể, ướp tất cả những thơm tho quí nhất vào thân. Làm như vậy trải thời gian cả 1.200 năm để cho thân tâm trở thành một chất thơm tho. Sau đó tự đốt bằng sức nguyện thần thông để cúng Phật.
Cúng dường như thế là tinh tấn là “cúng dường pháp”.
Cúng dường như thế có nghĩa là cúng dường bằng sự chuyển hóa chất lượng không thanh tịnh thơm tho, chất lượng Phật ở thân tâm mình.
* Đốt. Đốt đi. Đốt nữa. Đốt mãi, đốt với thời gian dài 1.200 năm hay lâu hơn nữa cũng nên. Bởi vì “cái bản ngã” của con người khó mà diệt trừ trong một sớm một chiều. Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến phải đốt đến 1.200 năm “cái ta”, “cái bản ngã” mới hết. Còn Phật tử chúng ta ngày nay chưa được chúng sanh nào “Hỉ Kiến”, vậy phỏng độ mình phải đốt thêm bao nhiêu năm nữa mới biểu lộ sự hỉ kiến khi chúng sanh chiêm ngưỡng dung nhan.
* Chết đi cái hoàn cảnh ô trược để sống lại trong hoàn cảnh trong sạch của nhà vua Tịnh Đức. Chết đi cái tứ đại thai sanh ô trược, để sống lại trong hóa sanh tinh khiết. Đó là tiến trình phát triển của sự vật từ giản đơn đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện lên hoàn thiện. Chúng luôn luôn phủ định lấy nhau. Bảo thủ là lạc hậu. Cố chấp là dẫm chân một chỗ.
* Trước giờ phút nhập Niết bàn (đây là đức Phật thứ 4, nhập Niết bàn, sau khi nói kinh Pháp Hoa xong) Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức phó thác tất cả Phật pháp, Bồ tát, đệ tử, bảo thọ, bảo đài, thất bảo, xá lợi v.v….cho Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến. Một đệ tử Bồ tát như thế, thảo nào Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức chẳng ủy thác chúc lụy tất cả Phật sự cho.
* Vào bàn tay Bồ tát thì nắm xương tàn (xá lợi) cũng làm nên Phật pháp rất nhiều, làm cho Phật pháp cao siêu vĩ đại. Phải làm được như thế thì sự cúng dường xá lợi mới có ý nghĩa. Công đức ở chỗ tuyên dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, chớ tháp cao ba thế giới mà xây đến 84.000 ngôi, thì Bồ tát “vác dù quyên tởi” biết đến bao giờ thành tựu, mà thành tựu để được gì cho Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến ?
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai”. (Hễ là vật chất thì hư huyển tất cả. Chừng nào thấy được cái tánh “phi vật chất” của vật chất mới thấy được Như Lai Phật).
* Thiện tâm, thiện hạnh, thiện chí như thế mà Bồ tát Nhất Thiết Chúng Sanh Hỉ Kiến chưa tự mãn với công đức của mình. Trước 84.000 tháp Bồ tát nguyện đốt hai tay “trăm phước” trang nghiêm, mà người trí hiểu là đốt đi những cặp phạm trù đối đãi: Phải Trái. Ta Người. Thân Sơ. Thương Ghét. Tốt Xấu. Trọng Khinh. Lấy Bỏ. Hơn Thua. Sang Hèn. Trí Ngu. Thành Bại.
Đốt, Bồ tát đốt mãn 72.000 năm để cúng dường cho đến “cái ta” tàn rụi mới thôi.
* Nếu đốt để hủy diệt, đốt để tàn đời thì chẳng khác gì những kẻ thất tình thất chí đã làm, chẳng có gì ích lợi cho ai. Bồ tát đốt hai tay Phải Trái để có hai tay Phước Đức Trí Tuệ. Đó là một hình thức cải tạo để mà xây dựng. Mà xây dựng cái mới, tất nhiên phải tốt đẹp hơn lên.
Cái tinh thần đó của Đại thừa Phật giáo nói lên tánh tích cực lạc quan tự tin khả năng hoán cải, chuyển hóa của chính con người, để đưa con người đến đỉnh cao của giải thoát, giác ngộ.
* Tất cả tạng bí yếu của Như Lai đều gồm chứa ở Kinh Pháp Hoa. Cho nên, đối với sông ngòi, kinh rạch, kinh Pháp Hoa là biển. Với gò nổng đồi cao, kinh Pháp Hoa là núi. Với các tinh tú, kinh Pháp Hoa là trăng. Với các vua quan, kinh Pháp Hoa là Chuyển Luân Thánh Vương. Với tam thập tam thiên, kinh Pháp Hoa là Đế Thích. Với tứ quả Thanh Văn, kinh Pháp Hoa là A la hán. Đối với các pháp, kinh Pháp Hoa là Phật.
Knh nầy có thể cứu khổ tất cả chúng sanh. Nghe kinh nầy, người có bệnh, bệnh sẽ lành . Người sợ già, sợ chết sẽ không già không chết. Vì kinh nầy là Dược Vương là phương thuốc chúa.
“Trường không túng sử song phi cốc Cự hải hà phòng nhất điểm âu” (Ngại gì bọt sóng lô nhô biển
Vài áng mây thưa giữa khoảng không.)
Tinh thần bất úy đó của Tuệ Trung Thượng sĩ, chắc chắn là phát xuất từ tư tưởng của Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa nầy.









PHẨM 24
DIỆU ÂM BỒ TÁT VÃNG LAI
Lúc bấy giờ, đức Phật Thích Ca, từ nơi nhục kế phóng một đạo hào quang, rồi từ giữa đôi lông mày cũng phóng một đạo hào quang rực rỡ khắp soi một trăm tám mươi ức na do tha hằng hà sa thế giới chư Phật ở phương Đông. Xa hơn số thế giới này, có một thế giới tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Tại nước ấy, có Phật hiệu là Tịnh Hoa Tú Vương Trí đang thuyết pháp cho vô lượng vô biên Bồ tát cung kính vây quanh nghe. Hào quang lông mày của đức Phật Thích Ca soi khắp nước Tịnh Quang.

Bây giờ trong nước Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có một Bồ tát tên là Diệu Âm, từ lâu đã trồng cội đức, cúng dường gần gũi vô lượng chư Phật, cho nên đã thành tựu trí tuệ rất sâu và được nhiều thứ tam muội là: diệu tràng, pháp hoa, tịnh đức, túc vương trí, vô duyên, trí ấn, giải nhất thiết chúng sanh ngữ ngôn, tập nhất thế công đức, thanh tịnh, thần thông du hí, huệ cự, trang nghiêm vương, tịnh quang minh, tịnh tạng, bất cộng và nhật triền. Bồ tát Diệu Âm được trăm ngàn muôn ức hằng hà sa đại tam muội như thế. Thân tắm trong ánh sáng đức Phật Thích Ca, Bồ tát Diệu Âm liền bạch với Tịnh Hoa Tú Vương Trí : “Thế Tôn ! Tôi sẽ sang thế giới Ta bà, kễ bái, gần gũi cúng dường Phật
Thích Ca cùng ra mắt các Bồ tát Văn Thù, Dược Vương, Dũng Thí, Tú Hoa Vương, Thượng Hành ý, Trang Nghiêm Vương và Dược Thượng”.
Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí nói với Bồ tát Diệu Âm: “Ngươi chẳng nên xem rẻ nước kia (thế giới Ta bà) mà tưởng là thấp kém. Này thiện nam tử, thế giới Ta bà cao thấp không bằng thẳng, dẫy đầy núi đất, núi đá và những nhơ xấu, thân phận thấp nhỏ, hình các Bồ
tát cũng nhỏ như vậy, còn thân ngươi thì cao đến 42.000 do tuần, thân ta đến 680.000 vạn do tuần; thân ngươi mà còn đoan chánh bậc nhất, như thế, được trăm ngàn muôn phước làm cho hết sức sáng rỡ. Vì vậy sang đến cõi ta bà, chớ nên xem khinh, đừng sanh lòng nghĩ tưởng rằng Phật, Bồ tát cùng nhân dân cõi nước này là thấp thỏi, yếu đuối.
Bồ tát Diệu Âm bạch: Thế Tôn ! Con nay qua cõi Ta bà là do sức thần Như Lai, do thần thông du hí của Như Lai, do công đức trí tuệ, trang nghiêm của Như Lai.
Lúc ấy, Bồ tát Diệu Âm không dời khỏi chỗ ngồi, thân chẳng lay động, nhập chánh định, dùng sức mạnh của chánh định, tại núi Kỳ xà quật, cách chỗ Bồ tát ngồi không xa, hóa ra
84.000 hoa sen báu, cộng bằng vàng diêm phù đàn, cành bằng bạc, nhụy bằng kim cương và đài bằng bảy báu.
Bồ tát Văn Thù thấy vậy mới bạch với đức Thích Ca: “Thế Tôn ! Do đâu mà có điềm tốt này ?”. Đức Phật đáp: Đó là điềm Bồ tát Diệu Âm từ nước của Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí muốn cùng 84.000 Bồ tát đến cõi Ta bà, để cúng dường, gần gũi, lễ lạy ta và cũng muốn cúng dường nghe kinh Pháp Hoa.
Bồ tát Văn Thù bạch: Thế Tôn ! Bồ tát đó trồng cội lành gì, tu công đức gì mà được sức đại thần thông như thế ? Tu tam muội gì ? Cúi xin Thế Tôn nói cho chúng con biết tên tam muội đó vì chúng con muốn tu tam muội ấy để thấy được sắc tướng và oai nghi tiến, dừng tự tại của Bồ tát Diệu Âm. Khi Bồ tát tới, cúi xin Thế Tôn dùng sức thần thông làm cho chúng con thấy được Bồ tát.
Đức Thích Ca đáp: Đức Đa Bảo Như Lai đã diệt độ từ lâu, sẽ vì các ngươi mà hiện bày thân tướng của Bồ tát Diệu Âm.
Tức thời Phật Đa Bảo bảo Bồ tát Diệu Âm: “Thiện nam tử ! Hãy đến đây, Văn Thù muốn thấy thân của ngươi đấy”.
Bấy giờ Bồ tát Diệu Âm, đang ẩn mặt ở nước kia, bèn cùng 84.000 Bồ tát đồng qua cõi Ta bà. Trải qua các nước, đâu đâu đất cũng chuyển động 6 cách, hoa sen bảy báu rưới như mưa, trăm ngàn nhạc trời chẳng trỗi tự kêu, mắt của Bồ tát như cánh hoa sen xanh rộng lớn, diện mạo tốt đẹp hơn trăm ngàn muôn mặt trăng hợp lại, thân sắc vàng ròng trang nghiêm bằng vô lượng công đức, oai đức rất thạnh, ánh sáng chói rực, đầy đủ các tướng như thân bền chắc của Na la diên.
Bồ tát Diệu Âm vào đài bảy báu, bay lên hư không cách đất bảy cây đa la và cùng chư Bồ tát vây quanh, đến núi Kỳ xà quật ở cõi Ta bà. Tới nơi rồi, Bồ tát xuống đài, lấy chuỗi ngọc giá trị trăm ngàn cúng dường đức Phật Thích Ca mà bạch rằng: Thế Tôn ! Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí có lời hỏi thăm Thế Tôn ít bệnh, ít buồn, đi đứng thơ thới, và hoạt động trong sự an lạc không ? Bốn đại có điều hòa chăng ? Việc đời nhẫn được chăng
? Chúng sanh dễ độ chăng ? Không có nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn, phải vậy chăng ? Không còn điều bất hiếu với cha mẹ, chẳng kính sa môn, tà kiến, tâm chẳng lành, năng hàng phục các ma oán chăng ? Đa Bảo Như Lai diệt độ từ lâu và trong tháp bảy báu, có đến nghe pháp chăng? Đức Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí lại dặn tôi hỏi thăm Đa Bảo Như Lai có an ổn, ít buồn hay chịu đựng và ở lâu được chăng ? Thế Tôn ! Tôi muốn thấy thân Phật Đa Bảo, cúi xin Thế Tôn chỉ cho tôi được thấy.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca nói với Phật Đa Bảo: Bồ tát Diệu Âm muốn ra mắt Ngài. Đức
Phật Đa Bảo liền nói với Bồ tát Diệu Âm: Hay lắm ! Hay lắm ! Vì cúng dường Phật
Thích Ca, cùng nghe kinh Pháp Hoa và thấy Văn Thù v.v…ngươi đến cõi nầy !
Lúc bấy giờ, Bồ tát Hoa Đức bạch Phật Thích Ca: Thế Tôn ! Bồ tát Diệu Âm trồng cội lành gì, tu công đức nào mà có sức thần thông như thế ?
Đức Phật đáp: Thuở quá khứ có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương, nước tên là Hiện Nhất Thiết Thế Gian, kiếp tên Hỉ Kiến. Suốt 12.000 năm, Bồ tát Diệu Âm dùng 10.000 thứ kỹ nhạc cúng dường Phật Vân Lôi Âm, cúng dâng 84.000 bát bảy báu. Do nhân duyên quả báo đó mà nay được sanh tại nước của Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí và có sức thần như thế. Này Hoa Đức, ngươi nghĩ sao ? Diệu Âm Bồ tát thuở xưa đó, chính nay là Bồ tát Diệu Âm đây. Bồ tát Diệu Âm này đã từng cúng dường, gần gũi, vô lượng Phật, từ lâu vun trồng công đức, lại gặp hằng hà sa Phật. Này Hoa Đức, ngươi chỉ thấy thân hình
Diệu Âm ở tại đây, chẳng dè Bồ tát ấy hiện các thứ thân hình, nơi nơi đều vì chúng sanh
mà nói kinh điển này. Diệu Âm có thể hiện thân Phạm Vương, Đế Thích, Tự tại thiên, Đại tự tại thiên, Thiên đại tướng quân, Tỳ sa môn thiên vương, Chuyển luân thánh vương, Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sỉ, Tể quan, Bà la môn, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà
tắc, Ưu bà di, hoặc hiện thân vợ tể quan, Bà la môn hoặc hiện thân trai, gái, trời, rồng, dạ xoa…người, cùng không phải loài người v.v..mà nói kinh nầy. Bao nhiêu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và ở đâu có tai nạn, Diệu Âm đều có khả năng cứu giúp, thậm chí đến trong hậu cung vua chúa, Bồ tát cũng biến làm thân người nữ mà nói kinh nầy.
Hoa Đức, Bồ tát Diệu Âm này hay cứu độ các chúng sanh trong cõi Ta bà, hiện các thứ thân ở cõi Ta bà vì chúng sanh mà nói kinh Pháp hoa, tuy vận dụng thần thông biến hóa như thế mà trí tuệ sáng soi cõi Ta bà, khiến tất cả chúng sanh, mỗi mỗi đều được sự hiểu biết của mình, còn trong hằng hà sa thế giới mười phương cũng đều được như vậy. Nếu phải dùng hình Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát hay Phật để độ thoát chúng sanh thì Diệu Âm liền hiện ra hình ấy mà nói pháp. Thậm chí phải diệt độ để độ thoát chúng sanh thì cũng thị hiện diệt độ.
Bồ tát Hoa Đức bạch Phật: Thế Tôn ! Bồ tát Diệu Âm ở trong tam muội nào có thể biến hiện ở các nơi và trong nhiều thân hình như thế ? Phật đáp: Tam muội đó gọi là: Hiện nhất thiết sắc thân.
Lúc đó phẩm Diệu Âm Bồ tát vãng lai này, 84.000 Bồ tát cùng đi với Bồ tát Diệu Âm
đều được tam muội Hiện nhất thiết sắc thân.
Khi Bồ tát Diệu Âm cúng dường đức Phật Thích Ca và tháp Đa Bảo xong rồi trở về nước mình, các nước của Bồ tát trải qua đều chấn động, trên các mưa hoa sen báu, nhạc trời tự trổi như lúc đi. Về đến nước rồi, Bồ tát cùng 84.000 Bồ tát vây quanh đến trước Phật
Tịnh Hoa Tú Vương Trí bạch rằng: Thế Tôn Con đến cõi Ta bà làm lợi ích cho chúng sanh, đã ra mắt lễ lạy, cúng dường đức Phật Thích Ca, ra mắt tháp Phật Đa Bảo, lại gặp các Bồ tát Văn Thù, Dược Vương, Dũng Thí và cũng đã làm cho 84.000 Bồ tát này được tam muội Hiện nhất thiết sắc thân.
Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ tát vãng lai này, 42.000 người cõi nhân thiên được vô sanh pháp nhẫn, còn Bồ tát Hoa Đức được Pháp Hoa tam muội.
THÂM NGHĨA
Diệu Âm là tiếng mầu nhiệm. Diệu Âm Bồ tát được biểu trưng cho tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh. Kinh nói Diệu Âm Bồ tát ở nước Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm có nghĩa là Diệu Âm Bồ tát chỉ có mặt ở thế giới “Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm”. Cũng như tiếng lòng mầu nhiệm chỉ hiện hữu ở tâm hồn trong sáng và thanh tịnh, không có phiền não cấu uế nhiễm ô.
Muốn tiếp cận, gặp gỡ liên hệ Diệu Âm, phải nhờ ánh sáng Phật soi rọi mới thấy và liên hệ được. Cũng như muốn “nghe” được tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh, phải có giác tri. Dùng ánh sáng trí tuệ giác soi rọi vào tâm (hồi quang phản chiếu) mới “nghe” được tiếng mầu nhiệm của lòng trong sạch của mình. Nếu không dùng ánh sáng trí tuệ
hồi quang phản chiếu, thì tiếng mầu nhiệm của tâm dù có, cũng như không, vì người ta sẽ không bao giờ “nghe” được. Diệu Âm dù sẵn ở thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm nhưng nếu không có “ánh sáng Phật” soi rọi thì Bồ tát Diệu Âm không có điều kiện liên hệ tiếp cận với chúng sanh ở thế giới Ba bà và Diệu Âm Bồ tát có cũng như không có.
Diệu Âm Bồ tát được nhiều tam muội, xét cho tột lý thì đó là chuyện tất nhiên. Bởi như ta đã hiểu, Diệu Âm Bồ tát là biểu trưng cho tiếng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh thì còn có thứ tam muội nào ngoài chân tâm thanh tịnh ấy ? Cho nên kinh nói: “Bồ tát được trăm ngàn muôn ức hằng hà sa các đại tam muội”.
Khi chưa có ánh sáng Phật soi đến thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm, thì hai thế giới cách xa tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi Phật. Nhưng khi Phật Thích Ca dùng “ánh sáng Phật” soi rọi thì thế giới Ta bà và thế giới Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm in tuồng như có một, chẳng còn cách trở bởi cự ly, cho nên Diệu Âm Bồ tát chỉ trong khoảnh khắc đã tận mặt với chúng sanh, Bồ tát và Phật ở cõi Ta bà.
Tiếng mầu nhiệm của chân tâm rất thâm sâu, xa thẳm đến nỗi dường như không có, nếu chúng sanh mê. Nhưng nó có thể đến rất nhanh, trong khoảnh khắc với ta, nếu ta có giác chiếu.
Diệu Âm dù thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ, nhưng không nên sanh tưởng hạ liệt với Phật và Bồ tát ở thế giới Ta bà. Lời Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí dặn như thế. Bời vì Phật – Phật đạo đồng. Bồ tát phải hiểu như thế, mọi đệ tử Phật phải hiểu như thế. Vả lại, Diệu Âm qua cõi Ta bà là do sức thần Như Lai, nếu không có sức thần Như Lai thì Diệu Âm cũng không có khả năng đến. Chính Bồ tát Diệu Âm đã hiểu như thế và sự thật là như thế. Bởi vì, nếu không có “giác tâm” hồi quang phản chiếu thì tiếng lòng mầu nhiệm không có cơ hội hiện ra.
Diệu Âm sắp đến cõi Ta bà, bấy giờ cõi Ta bà trở thành đẹp đẽ. 84.000 hoa sen báu mọc lên: cộng, cánh, nhụy, gương, hạt toành bằng vàng bạc, kim cương, chân thúc ca, các
báu hòa hợp thành, để đón mời Bồ tát Diệu Âm và 84.000 Bồ tát tùy tùng sắp đến. Trên đường ngang qua, các cõi nước cũng đều có hiện tượng đẹp: Nhạc trời không trổi tự kêu, hoa sen báu tự rơi rải cúng dường Đại địa (Tâm địa) rung động sáu cách…..
Tiếng lòng mầu nhiệm đến, thì cõi lòng ta sẽ có hiện tượng hân hoan, đẹp đẽ, khinh an, thanh tịnh. Các tạp tưởng ô trược ẩn đi, những gì quý báu trong sạch, trang nghiêm, an lành sẽ đến ở lòng ta.
Phật Thích Ca biểu trưng “thỉ giác”. Phật Đa Bảo biểu trưng “bản giác”.
Phải vận dụng cả thỉ giác và bản giác mới có thể tận mặt, thấy được Diệu Âm. Chỉ có thỉ giác thôi, chưa đủ điều kiện tương kiến. Cho nên, Phật Thích Ca phải “mời” Phật Đa Bảo hiển bày thân tướng “Diệu Âm” cho Bồ tát Văn Thù và đại chúng Pháp Hoa hải hội thấy. Sự việc đó, nhằm dạy cho Phật tử phải vận dụng bản giác và thỉ giác của mình, khi muốn tận mặt Diệu Âm, muốn “nghe” Tiếng lòng mầu nhiệm.
Cũng như chư Bồ tát “Tùng Địa Dũng Xuất” ở phẩm thứ 15, qua nghi lễ tương kiến thông thường, Bồ tát Diệu Âm liền xin Phật Thích Ca được ra mắt Phật Đa Bảo. Vì bản giác, thỉ giác là mục tiêu đạt đến, là công tác hành đầu đối với một Bồ tát vậy.
Những lời vấn an Phật, của Bồ tát Diệu Âm, được xem như tiếng nhắc nhở của Diệu Âm, của tiếng lòng mầu nhiệm.
• Ít bệnh, ít khổ, thơ thới an vui với việc làm trong cuộc sống hằng ngày.
• Điều hòa tứ đại (điều thân).
• Nhẫn nhục việc đời (điều tâm).
• Chế ngự dễ dàng tư tưởng (chúng sanh dễ độ)
• Không nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn.
• Không bất hiếu với cha mẹ.
• Không phỉ báng sa môn.
• Không tà kiến chẳng lành.
• Hàng phục các oán thù khuấy nhiễu của ma.
• Kích khởi tâm biếng lười, hay siêng năng nghe pháp.
• Hãy sống an ổn, sống kham nhẫn, đừng đau khổ, đừng bất mãn, đừng trốn tránh sự thực ở cõi đời.
Đó là những điều pháp xuất từ Diệu Âm và phải được hiểu đó là Tiếng lòng mầu nhiệm
của ta, nhắc nhở cho ta những điều “ngăn dứt” và những gì nên pháp triển ở lòng mình.
Diệu Âm mà trở thành Diệu Âm Bồ tát là do nhiều đời cúng dường Phật Vân Lôi Âm. Cũng như vàng mà được thành vàng ròng là do trước đó đã nấu lọc quặng vành. Tiếng lòng mầu nhiệm đến với ta là trước đó ta đã phải nghe những tiếng lòng tạp tưởng mà ta đã chế ngự dứt bỏ hết đi rồi.
Diệu Âm có thể hiện đủ các loại thân hình. Từ Phạm Vương, Đế Thích, Tự tại thiên, Đại tự tại thiên, thân vua lớn, vua nhỏ, thân trưởng giả, cư sĩ, quan quyền, sa môn, Bà la môn…Thiên, long, bát bộ, nhơn, phi nhơn…cho đến hậu cung của vua, Diệu Âm cũng hiện làm thân người nữ mà nói kinh Pháp Hoa.
Với chủng tánh lớn hơn, những người xuất ly tam giới, nếu cần thân Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát,, Phật, để độ được, thì Diệu Âm cũng tùy căn cơ mà hiện thân thuyết pháp hóa độ cho mỗi hạng người. Nếu cần sự hóa độ không lời, như đức nhẫn nhục, hạnh làm gương. Diệu Âm vẫn có khả năng tùy nghi độ thoát.
Nói trắng ra là những giai cấp nào, người ở giới nào, căn tánh nào, cũng sẵn có Diệu Âm. Chỉ khác nhau ở chỗ có biết khai thác hay không, để cho tiếng mầu nhiệm của cõi lòng được hiện thực hay ẩn tàng mãi mãi để rồi mai một trong tâm khảm, dầy đặc vô minh u tối !
Là Bồ tát thì lấy sự độ sinh làm sự nghiệp.
Cho nên cần có tam muội “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân”. Phải “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” mới lợi ích chúng sanh nhiều được . Cho nên 84.000 Bồ tát tùy tùng và vô lượng Bồ tát vãng lai đều được “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” tam muội.
Không có tam muội “Hiện Nhất Thiết Sắc Thân” không hoàn thành vai trò và nhiệm vụ
của Bồ tát được.
Diệu Âm Bồ tát trở về thế giới Nhất thiết tịnh quang trang nghiêm. Thế là cõi Ta bà không còn rực rỡ nữa. Những điềm lành, hiện tượng tốt không còn.
Ôi ! Nếu ta chẳng có khả năng cầm giữ Tiếng lòng mầu nhiệm của chân tâm thanh tịnh ở với ta, thì cõi lòng của ta sẽ trở lại với bao nhiêu nhiệt não đau thương, với cuộc sống ê chề dục vọng…
Chúng ta hãy gắng mà “giữ mãi Diệu Âm” ở lại !







PHẨM 25
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN
Lúc bấy giờ Bồ tát Vô Tận Ý lễ Phật bạch rằng: Thế Tôn ! Do nhân duyên nào mà Bồ tát
Quán Thế Âm tên là Quán Thế Âm.
Phật bảo: Vô lượng trăm ngàn muôn ức chúng sanh đang bị khổ não mà nghe Bồ tát
Quán Thế Âm rồi “nhất tâm” xưng niệm danh hiệu của Bồ tát thì tất cả chúng sanh ấy đều
được giải thoát khổ não.

Người nắm giữ danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm thì nhờ oai thần của Bồ tát mà:
• Vào lửa không bị lửa thiêu.
• Chìm dưới nước, được vào chỗ cạn.
• Đi thuyền tìm châu báu trong biển lớn bị lạc vào nước quỷ La Sát sẽ thoát được nạn quỷ ấy.
• Sắp bị dao gậy chém đánh, thì dao gậy kia bị gẫy từng khúc.
• Khỏi bị Dạ Xoa và La Sát làm hại, thậm chí chúng không dám ngó nhìn.
• Bị xiềng xích gông cùm, đều có tội hay không, xiềng xích gông cùm thảy đều đứt rã.
• Gặp đường hiểm nạn, được thoát khỏi và không bị sợ hãi.
Lại nữa, chúng sanh nào nhiều dâm dục, nhiều giận hờn, nhiều ngu si, mà thường cung kính niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm thì được lìa dục, lìa sân, lìa si.
Này Vô Tận Ý, Bồ tát Quán Thế Âm oai thần vòi vọi như thế, cho nên chúng sanh phải một lòng tưởng nhớ.
Người nữ nào lễ bái, cúng dường Bồ tát Quán Thế Âm để cầu con trai thì được con trai phước đức trí tuệ, còn muốn cầu con gái hình tướng xinh đẹp, trồng sâu cội phước, người người kính mến.
Cung kính lễ bái Quán Thế Âm phước đức không bao giờ mất và nhiều như phước đức của người niệm danh hiệu và cúng dường sáu mươi ức hằng hà sa Bồ tát.
Vô Tận Ý bạch: Thế Tôn ! Bồ tát Quán Thế Âm làm thế nào mà dạo khắp ta bà ? Sức mạnh phương tiện của Bồ tát như thế nào?
Phật bảo: Nếu có chúng sanh quốc độ nào cần thân Phật mới độ thoát họ được, thì Bồ tát
Quán Thế Âm liền hiện thân Phật mà thuyết pháp cho họ nghe.
Nếu cần thân Duyên Giác, thân Thanh Văn, thân Phạm Cương, thân Đế Thích, thân Tự
Tại Thiên, thân Thiên Đại Tướng Quân, thân Tỳ Sa môn, thân Tiểu vương, thân Trưởng giả, thân Cư sĩ, thân Tể quan, thân Bà la môn, thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu
bà di, thân con trai, con gái, thậm chí đến thân Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, cùng không phải loài người, để độ thoát một chúng sanh của một quốc độ nào đó, thì Bồ tát Quán Thế Âm tùy trường hợp hiện thân ấy mà hóa độ.
Vô Tận Ý, Bồ tát Quán Thế Âm thành tựu công đức như thế, dùng các thứ thân hình, dạo cùng các nước mà độ thoát chúng sanh, vì vậy chúng ngươi phải “nhất tâm” cúng dường. Bồ tát Quán Thế Âm còn được cõi Ta bà gọi là “Người bố thí vô úy” vì trong hoàn cảnh sợ hãi tai nạn nguy cấp, Bồ tát có khả năng làm cho hết sợ.
Vô Tận Ý bạch Phật: Thế Tôn ! Con xin cúng dường Bồ tát Quán Thế Âm. Nói xong, liền mở xâu chuỗi ngọc đang đeo nơi cổ, giá trị trăm ngàn lượng vàng, đem dâng cho Bồ tát Quán Thế Âm mà nói rằng: Xin ngài nhận món pháp thí bằng châu báu nầy.
Bồ tát Quán Thế Âm không chịu nhận. Vô Tận Ý lại thưa: Xin Ngài thương xót chúng tôi mà nhận cho.
Bấy giờ Phật bảo Bồ tát Quán Thế Âm: Ông nên thương xót Vô Tận Ý và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, loài người và không phải người v.v….mà nhận chuỗi ngọc.
Vô Tận Ý Bồ tát nói một bài kệ để hỏi Phật:
“Thế Tôn đủ tướng tốt Con nay xin hỏi Phật Phật tử kia duyên gì Tên là Quán Thế Âm”.
Kệ đáp:
“Vô Tận Ý nghe đây, Hãy nghe hạnh Quán âm Khéo ứng các nơi chỗ Thệ rộng sâu như biển
Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn Hầu nhiều nghìn ức Phật Phát nguyện thanh tịnh lớn”.
Ta vì ông lược nói:
Nghe danh và thấy thân Tâm niệm không xao lãng Hay diệt khổ ba cõi
Giả sử khởi ý hại Xô rớt hầm lửa lớn Do sức Quán âm kia
Hầm lửa biến thành ao
Hoặc trôi dạt biển lớn Cá, rồng, quỷ các nạn Do sức Quán âm kia
Sóng mòi dập chẳng chìm
Hoặc ở chót Tu di
Bị người xô rớt xuống Do sức Quán âm kia Như mặt trời trụ không
Hoặc bị người ác rượt Rớt xuống núi kim cang Do sức Quán âm kia Chẳng hại đến mảy lông
Hoặc bị oán tặc vây Đều cầm dao gia hại Do sức Quán âm kia
Đều liền sanh lòng lành
Hoặc bị khổ nạn vua Gia hình mệnh sắp chết Do sức Quán âm kia Dao liền gẫy từng đoạn
Hoặc xiềng xích cầm tù Tay chân bị cùm gông Do sức Quán âm kia Tháo ra được thong thả
Trù ếm tra thuốc độc Muốn hại chết người ta Do sức Quán âm kia Người làm mang hại lấy
Hoặc gặp La sát dữ Độc long các quỷ yêu Do sức Quán âm kia
Chúng liền không dám hại
Hoặc thú dữ vây quanh Nanh vút bén đáng sợ Do sức Quán âm kia
Chạy gấp chẳng kể đường
Rắn độc và bò cạp Phun khí độc mịt mờ Do sức Quán âm kia Tự khắc lui chạy hết
Mây đen sấm sét nổ Giá tuôn mưa xối xả Do sức Quán âm kia Tức thời tiêu tan hết
Chúng sanh bị khổ ách Vô lượng khổ bức thân Quán âm sức trí diệu Hay cứu khổ thế gian Đầy đủ sức thần thông Rộng tu trí phương tiện
Mười phương các cõi nước Không cõi nào chẳng hiện Các loài trong đường dữ Địa ngục, quỷ, súc sanh Sanh, lão, bệnh tử khổ
Lần lần khiến dứt hết
Quán chơn, quán thanh tịnh Quán trí tuệ quảng đại Quán bi và quán từ
Thường nguyện thường chiêm ngưỡng
Quán thanh tịnh không nhơ
Trời trí tuệ phá tối Hay phục tai gió lửa Chiếu sáng khắp thế gian
Thể Bi ngừa sấm sét Ý từ đám mây lành Xối mưa pháp cam lồ
Dứt trừ lửa phiền não
Kiện tụng ở chỗ quan
Trong quân trận sợ sệt
Do sức Quán âm kia
Oán cừu đều tan hết
Diệu âm: Quán Thế Âm Phạm âm, hải triều âm Tiếng hơn hết thế gian
Cho nên thường phải niệm
Niệm niệm chớ sanh nghi Quán Thế Âm Thánh tịnh Với khổ não chết chóc
Làm chỗ nương cậy cho
Đủ tất cả công đức
Mắt lành trông chúng sanh Biển phước lớn vô lượng Thế nên cần đãnh lễ.
Bấy giờ, Bồ tát Trì Địa liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật thưa rằng:
Bạch Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn với sức thần thông, đạo nghiệp tự tại nầy thì nên biết công đức của người đó không phải tầm thường.
Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn nầy, trong chúng có 84.000 chúng sanh đều phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
THÂM NGHĨA
Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn thường gọi giản luợc là phẩm Phổ Môn. Phẩm kinh nầy tùy chủng tánh và trình độ kiến giải của mỗi người mà có sự nhận thức khác nhau. Vì vậy khi ứng dụng việc tu tập hành trì, mỗi người theo sự nhận thức của mình mà “tín ngưỡng”. Thế nên khó tìm một tiêu chuẩn mà nhất trí về Bồ tát Quán Thế Âm và ý nghĩa của phẩm Phổ Môn nầy.
Theo sự phân phán của Hải Ấn đại sư được nhiều bậc đa văn tiền bối tán đồng, phẩm Quán Thế Âm được liệt vào phần Nhập Phật Tri Kiến, giáo nghĩa rất thâm. Đây là pháp thực hành quán niệm dựa trên âm văn của nhĩ căn và thanh trần. Thanh trần và Âm, nhĩ căn và Văn vậy. Nhĩ căn có ba đức tánh Viên, Thông, Thường, nó đặc thù hơn các căn khác.
Ngồi một nơi yên tĩnh, mười phương có tiếng trống, cùng một lúc nghe đủ cả mười. Đó là
đức Viên.
Cách vách có thể nghe tiếng. Tiếng gần tiếng xa cũng có thể nghe. Đó là đức Thông. Có tiếng nghe đã đành, không tiếng tánh nghe vẫn có. Đó là đức Thường của nhĩ căn
vậy.
“Phật xuất Ta bà giới Thử phương chân giáo thể Thanh tịnh tại Âm văn
Dục thủ tam ma đề
Thật tùng Văn trung nhập”.
Ý nghĩa bài kệ đó, nói lên ở kinh Thủ Lăng Nghiêm về sự ưu việt của Âm văn đó. Phương pháp quán niệm Âm văn rất là quan trọng. Tu học phẩm Quán Thế Âm Bồ tát,
Phật tử chúng ta hãy gác qua tình cảm do tập quán và truyền thuyết dân gian hời hợt.
Hãy tìm hiểu kinh điển qua sự thấy biết, tư duy vận dụng lý trí có tánh khách quan, mới có thể nhận chân giáo lý, mới có thể biết được sự thật về những điều Phật dạy chúng ta.
Ở phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát thứ 20, đã đề cập Oai “Âm” Vương Phật. Đó là đức Bổn sư đã kín đáo gợi ý, mật chỉ tiền đề cho thính chúng Pháp Hoa Hải hội về Âm Văn trong hồi ấy.
Ở phẩm 21, Như Lai thần lực, Phật mật ý chỉ bày công dụng của Âm Văn tỏ rõ hơn, qua hai sự kiện: tiếng tằng hắng và tiếng khảy móng tay, vang khắp mười phương quốc độ.
Ở phẩm 24, Diệu Âm, công dụng của Âm thanh đến đấy đã thành Diệu: Diệu Âm đến, có mặt, thì cõi Ta bà rực rỡ, trang nghiêm đẹp đẽ. Diệu Âm về, vắng tiếng, cõi Ta bà trở lại trạng thái cũ, không còn trang nghiêm đẹp đẽ nữa.
Phẩm Quán Thế Âm thứ 25 nầy, Phật dạy cho chúng ta cách Giữ diệu âm ở lại, để cõi
Ta bà xinh đẹp, rạng rỡ mãi.
Quán Thế Âm là danh hiệu “Nhân cách hóa một phương pháp tu tập”. Quán là vận dụng cái trí năng tri, soi rọi vào tâm để nhận thức đối tượng,
như quán tưởng, quán niệm một đối tượng nào…
Thế có nghĩa là sự vận động tương tục không ngừng của sự vật. Ở đâ nhằm chỉ bày sự tương tục của tâm tưởng chúng ta.
Âm là tiếng, Âm có âm hưởng, âm ba, âm thanh đều là đối tượng của nhĩ
căn.
Quán Thế Âm là quán niệm cái tiếng tăm thầm lặng mà trong như sương, trắng như tuyết, sáng chói như kim cương, nó thường xuyên liên tục không có một phút giây gián đoạn ở lòng ta.
Ở đời có thứ tiếng nào thường xuyên liên tục không gián đoạn?
- Tiếng của tâm ta. Tiếng lòng mầu nhiệm của ta là thứ tiếng thường xuyên va liên tục không ngừng. Nó luôn luôn nói với chúng ta , nếu chúng ta để ý lắng nghe. Nó có khả năng nói ngày nói đêm, nói ở mọi nơi chốn, chỉ trừ lúc ngủ không chiêm bao.
Nhưng làm sao biết được thứ tiếng nào là mầu nhiệm ?
- Thứ tiếng có khuynh hướng tiến lên giải thoát giác ngộ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh định…..được liệt vào tiếng mầu nhiệm, là diệu âm đó. Trái lại, những thứ tiếng có chất
vô minh, phiền não, khổ đau như: tham, sân, si, mạn…người Phật tử phải quên, bỏ nó đi, không nên lưu lại ở ký ức mình.
Diệu Âm tức Quán Thế Âm. Quán Thế Âm tức Diệu Âm đến rồi về để cho cõi Ta bà trở lại trạng thái cũ, không giữ được vẻ xinh đẹp, trang nghiêm nữa. Đó là Diệu Âm Bồ tát vãng lai ở phẩm trước.
Kinh nói:
“Diệu Âm, Quán Thế Âm Phạm Âm, Hải Triều Âm Thắng bỉ thế gian âm
Thị cố tu thường niệm…”
Nghe phẩm Quán Thế Âm, mỗi người phải đặt mình là một Vô Tận Ý Bồ tát. Phải sử
dụng ý thức sâu xa vô tận, tư duy thăm thẳm tột suốt nguồn tâm, để nhận thức thâm nghĩa của kinh. Nếu sử dụng ý thức nông cạn, tư duy hời hợt, “tín ngưỡng” Quán Thế Âm như một đấng thần quyền, sẽ sa vào mê tín dị đoan, làm cho người trí khinh chê, chánh pháp từ đây mai một !
Giả sử có vô lượng chúng sanh đang gánh chịu nhiều điều khổ não mà được nghe “Hạnh Quán Thế Âm”, liền quán âm thanh đó, thì họ sẽ được giải thoát những điều khổ não. Quán niệm “âm thanh” có nghĩa là quán tiếng tâm mình, là Diệu Âm vậy.
Trọng tâm cứu khổ của Quán Thế Âm nhằm giải thoát sự khổ tâm, sự khổ tinh thần. Tất nhiên, khi giải thoát khổ tinh thần, thì thân thể lành mạnh và mọi giá trị vật chất sẽ có ở
tầm tay. Vì vật chất không ngoài tinh thần; tinh thần không ngoài vật chất. Hai thứ ấy tác động hữu cơ. Thế thì sự cứu độ, sự ban cho của Quán Thế Âm là cứu độ, ban cho tinh thần, tinh thần những gì thuộc lãnh vực giải thoát giác ngộ của tâm tư và ý thức. Bồ tát sẽ không ban cho vật chất hữu vi cho chúng sanh đâu, vì làm như vậy tức là dồn đẩy chúng sanh vào con đường khổ ải triền miên không lối thoát. Mà Bồ tát thì không thể nào làm việc ác đức và tội lỗi đối với lương tâm mình.
Bởi vì:
“Đa dục vi khổ
Sanh tử bì lao Tùng tham dục khởi Thiểu dục vô vi Thân tâm tự tại…”
Kinh Bát đại Nhơn giác, Bồ tát đã thuộc nằm lòng
….”Nhơn hệ ư thê tử xã trạch, thậm ư lao ngục. Lao ngục hữu tán thích chi kỳ, thê tử vô viễn ly chi niệm. Tình ái ư sắc khởi đản khu trì, tuy hữu khổ khẩu chi hoạn tâm tồn cam phục. Đầu nê tự nịch cố viết phàm phu, thấu đắc thủ môn xuất trần La hán”.
(Dính dấp vào con đường thê tử cũng như phu tử còn nguy khổ hơn bị tù. Ở tù còn có ngày mãn hạn, chứ thê tử thì không sao có được ngày tháng rảnh rang..)
Kinh Tứ thập nhị chương, Bồ tát cũng đã thuộc kỹ
“Nhất thiết hữu vi pháp Như mộng, huyển, bào, ảnh Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán….”
Kinh Kim Cang Bát Nhả, Bồ tát Quán Thế Âm thì làm sao quên được
Quán Thế Âm Bồ tát còn thuộc nhiều kinh lắm, chỉ có những người trong giới:
“Đẳng nhàn quá nhật, ngột ngột độ thời. Khả tích quang âm bất cầu thăng tiến. Đồ tiêu thập phương tín thí, diệc nải cô phụ tứ ân…”
Họ cố bóp méo sự thật về “Hạnh Quán Âm”. Họ tôn thờ và truyền bá Quán Thế Âm như một Bồ tát chuyên là công tác “từ thiện xã hội”. Rằng Quán Thế Âm Bồ tát hứa sẽ giúp đỡ, hộ độ tất cả những gì người tín chủ muốn, miễn là “có lễ” và “thiết lễ cầu an” trước tượng Ngài, thành tâm khẩn nguyện và tụng phẩm “Phổ Môn Kinh”.
Không, không thể như vậy được. Bồ tát là bậc Đại đạo tâm, thành tựu chúng sanh. Bồ tát là bậc hữu tình đã giác ngộ. Bồ tát là bậc giác ngộ cho chúng hữu tình. Đạo lý nhân quả
Phật dạy, Bồ tát đã thân chứng. Chánh tà, chơn ngụy, chánh pháp, phi pháp, với trí tuệ
“hành thâm Bát nhã Ba la mật đa” không cần suy nghĩ, Bồ tát đã biết rõ hết rồi.
Thế mà người ta nói: Bồ tát là đại từ đại bi, cứu khổ, cứu nạn, Ngài độ hết thảy chúng sanh vô điều kiện, chỉ cần “cúng dường”, “cầu nguyện” và tha thiết “khấn vái” Ngài. Ý nghĩa nông cạn đó, việc làm không lý trí đó, với người trí, quả là sự bôi nhọ, sự sĩ nhục nặng nề đối với một Bồ tát “Đẳng Giác Quán Thế Âm”.
Muốn hiểu Bồ tát Quán Thế Âm cứu khổ với hình thức nào, chúng ta phải hiểu những vấn
đề được biểu trưng về khổ nạn và giải thoát khổ nạn được an vui như sau:
1. VỀ MẶT MẤT MÁT VÀ KHỔ NẠN:
Nạn lửa, chỉ cho tánh “thấy biết”, vì tánh thấy biết trái ý hay sanh tánh nóng nảy như lửa. Cho nên về lửa có: Lửa giận tức. Lửa dâm dục. Lửa bất mãn, bất bình. Lửa hận não nung đốt tâm can.
Nạn nước, chỉ cho tánh “nghe biết”, vì nếu nghe tiếng đàn giọng huyễn, dễ bị cuốn trôi, nhận chìm trong nhục dục khổ đau. Tánh luyến ái nặng nề, cũng được ám chỉ một hình thức cuốn trôi, nhận chìm của nước.
Quỷ la sát, ám chỉ những kẻ độc ác, hung bạo giết người.
Dao gậy, ví cho sức tác hại của sáu căn xúc đối với sáu trần, sanh ra sự đau khổ như cắt, như đánh.
Ma quỷ, chỉ sự cám dỗ của tham, sân, si, mạn, nghi, giải đãi, thùy miên, phóng dật, hôn trầm….
Gông cùm xiềng xích, biểu trưng cho sự mê mờ tối tăm vì những thứ đó làm cho con người mất tự do tự tại, kìm hãm sức phát triển về thể xác lẫn tinh thần.
Giặc cướp, ám chỉ những hành động sai quấy tội lỗi. Do đó, mất sạch công đức lành ví như bị giặc cướp hết sạch của cải.
Nói chung, tất cả những từ có tính cách tác hại, gây đau khổ, mất mát ở phẩm Phổ Môn đều phải được hiểu: Là những tác động tâm lý thuộc loại “tâm sở bất thiện”. Không được hiểu đó là sự kiện “cụ thể” ở ngoại cảnh trước mắt. Hiểu trái lại thì nó trở thành chuyện mê tín hoang đường.
2. VỀ MẶT ĐƯỢC VÀ AN VUI
Thất bảo là vàng bạc, lưu ly v.v..biểu trưng thất thánh tài: tín, giới, văn, tàm, quý, niệm,
định, xã.
Của báu, biểu trưng tất cả công đức lành.
Con trai, biểu trưng trí tuệ và giác ngộ
Con gái, biểu trưng phước đức và giải thoát.
Ngoài ra, tất cả những từ mang tính cách “lành mạnh” và “an vui” trong phẩm kinh nầy, phải được hiểu là: Phước đức, trí tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến thuộc loại “tâm sở thiện”. Tóm lại, “tâm sở thiện hay bất thiện” cũng được hiểu đó là cách nói về biểu
trưng. Vì lẽ Quán Thế Âm là pháp tu để “Nhập Phật tri kiến” chớ không phải là một thần thánh để nguyện cầu.
Phẩm Phổ Môn là phẩm thứ 25 trong 28 phẩm kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, nếu đưa vào đây một Bồ tát chuyên làm công tác xã hội tầm thường như thế, thì quả là phỉ báng Thế Tôn lắm vậy.
Người cúng dường và thọ trì danh hiệu 62 ức hằng hà sa Bồ tát, cốt để được định tuệ, để trở về với tâm thanh tịnh, giải thoát giác ngộ của mình. Người quán niệm tiếng lòng mầu nhiệm của mình thì người đó có được định tuệ và sống với tâm thanh tịnh giải thoát giác ngộ. Vì vậy, thọ trì danh hiệu 62 ức hằng hà sa Bồ tát và thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm thôi, hai công đức bằng nhau không khác, vì mục đích đạt đến ngang nhau.
Đáp câu hỏi của Vô Tận Ý Bồ tát, Quán Thế Âm vân du khắp Ta bà với hình thức nào.
Thế Âm thường trực ở trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh trong 10 pháp giới thánh phàm. Chúng sanh nào cần cứu độ thì Thế Âm dùng thân đó mà thuyết pháp hóa độ. Vì Thế Âm là “tiếng lòng thường trực” của tất cả chúng sanh vậy.
Pháp Quán Thế Âm là thứ pháp thí cho chúng sanh vô úy (không sợ). vì quán niệm Thế Âm nhất tâm thanh tịnh, thì chẳng còn gì đáng sợ nữa, kể cả sự chết, hành giả cũng xem đó là việc rất bình thường. Bình thường vì đó là quy luật, là chân lý tất yếu, tất nhiên.
Giác ngộ vô thượng không có gì cao xa và bí ẩn cả.
Người giác ngộ là người hiểu rõ, nắm trọn quy luật của thiên nhiên vũ trụ, rồi sống đúng theo quy luật đó, để cuộc sống khỏi bất mãn, khỏi khổ đau, mà kinh điển gọi là sống theo “chân lý”. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, Phật có ông nào trường sanh bất tử đâu. Thế mà cái chết của các Ngài được gọi là “Niết bàn” là “thoát ly sanh tử”. Còn phàm phu chỉ là chết mà gọi là “sanh tử luân hồi”, “ưu bi khổ não”. Nguồn gốc do đâu ? Do chấp cái “Ta” và cái “của ta”. Khởi niệm chấp là trái chân lý, trái quy luật thiên nhiên vũ
trụ. Gốc khổ phát sanh từ ý niệm chấp thủ của con người, là “vô minh nghiệp tướng”.
Quán Thế Âm là “nhân”, “bổn giác” và “thỉ giác” là quả. Bổn giác, thỉ giác mới là mục tiêu cứu cánh của tu pháp quán niệm Thế Âm. Vì vậy Thế Âm Bồ tát không dám nhận “quà” của Vô Tận Ý Bồ tát cúng dường. Sau khi nghe lời Phật khuyến khích Thế Âm mới nhận, nhưng rồi tức khắc dâng lên Phật Đa Bảo Như Lai (bổn giác) và Thích Ca Mâu Ni
(Thỉ giác). Vì chỉ có bổn giác và thỉ giác mới là địa vị thẩm quyền tối thượng để nhận
“của báu vô giá” của tấm lòng trong trắng “Vô Tận Ý” hiến dâng.
Sắp chấm dứt thời pháp về Quán Thế Âm Trì Địa Bồ tát (tâm địa) xuất hiện tán thán biểu đồng tình. Đó là một sự kiện có ý nghĩa sâu xa ! Tâm và Ý cần tiếp thu và nhận thức một cách hổ tương và đồng bộ thì hiệu quả giác ngộ giải thoát mới cao. Rằng: Hãy vận dụng tâm và ý mà quán niệm Thế Âm. Làm được vậy là Diệu Âm sẽ ở mãi nơi lòng ta. Diệu Âm không về đâu cả.








PHẨM 26
ĐÀ LA NI
Lúc bấy giờ Bồ tát Dược Vương đứng dậy chấp tay hướng Phật bạch rằng: Thế Tôn ! Nếu có trai lành gái tốt thọ trì kinh Pháp Hoa hoặc đọc tụng thông suốt, hiểu mau hoặc biên chép thành quyển, họ được phước đức có nhiều chăng ?
Đức Phật phản vấn: Nầy Dược Vương ! Giả sử có thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa Phật, ý ông nghĩ sao, người cúng dường chư Phật như thế phước đức họ có nhiều chăng ?

Bồ tát Dược Vương thưa: Bạch Thế Tôn, rất nhiều.
Phật nói: Nếu có trai lành gái tốt nào đọc tụng, giải nghĩa và tu hành đúng như lời, dầu chỉ là một bài kệ 4 câu, công đức của người nầy còn nhiều hơn người cúng dường chư Phật vừa nói.
Lúc đó, Bồ tát Dược Vương bạch Phật: “Thế Tôn ! Con nay sẽ hiến cho người giảng nói kinh Pháp Hoa một bài đà la ni (thần chú) để bảo hộ cho họ. Bồ tát liền đọc bài chú:
“An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, giá lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ chuyên đế…”
Bồ tát tiếp nói: Thế Tôn ! Thần chú này là của 62 ức hằng hà sa Phật nói. Ai xâm phạm hủy hoại Pháp sư coi như là xâm hủy các đức Phật vậy.
Lúc đó, đức Phật Thích Ca khen Bồ tát Dược Vương: Hay thay ! Hay thay ! Dược Vương, vì thương tưởng muốn bảo hộ Pháp sư mà nói bài chú, ngươi sẽ giúp ích rất nhiều cho chúng sanh.
Lúc bấy giờ Bồ tát Dũng Thí bạch Phật: “Thế Tôn ! Con cũng xin vì người thọ trì, đọc tụng kinh Pháp Hoa mà nói đà la ni. Được chú nầy rồi, thì Pháp sư không bị Dạ xoa, La sát hoặc Phú đơn na, Kiết giá, Cưu bàn trà, ngạ quỷ tìm thấy chỗ dở của mình nữa. Nói xong, Bồ tát đọc bài chú: “Toa lệ, ma ha tao lệ, úc chỉ….” Rồi nói tiếp: “Thế Tôn ! Thần chú nầy là của hằng hà sa Phật nói và cũng đều tùy hỉ. Ai xâm phạm Pháp sư tức xâm phạm chư Phật rồi vậy”.
Bấy giờ, Thiên Vương Tỳ Sa môn là vị Trời che chở cho thế gian, bạch Phật rằng: Thế Tôn ! Tôi cũng vì chúng sanh mà ủng hộ Pháp sư bằng đà la ni này. Liền nói bài chú: “A lê, na lê, a na lư, na lý, câu na lý”. Lại bạch: Thế Tôn ! Con đã dùng thần chú để ủng hộ Pháp sư, thì con cũng tự ủng hộ người trì kinh nầy, làm cho họ được trong khoảng trăm do tuần, khỏi điều tai nạn.
Bấy giờ, Thiên vương Trì Quốc ở trong pháp hội cùng với ngàn muôn ứ na do tha Càn thát bà chấp tay bạch Phật: “Thế Tôn ! Chúng con cũng dùng thần chú đà la ni bảo hộ người trì kinh Pháp Hoa”. Liền nói chú: “A dà nể, dà nể, cù lợi, phù lầu tá nỉ ác đế”. Lại nói: “Thế Tôn ! Thần chú này là của 42 ức Phật nói, ai xâm hủy Pháp sư cũng tức là xâm hủy các đức Phật rồi vậy”.
Bấy giờ 10 La sát cùng với bọn quỷ, cả mẹ lẫn con đều đồng bạch Phật: Thế Tôn ! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa và trừ sự khổ hoạn cho họ, còn nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp sư thì khiến cho đừng tìm được. Nói xong, liền đọc bài chú: “Y đề, y đề vẫn, y đề lý, an đề lý….” Lại tiếp: Các dạ xoa, La sát, ngạ quỷ…..hoặc quỷ làm bệnh nóng, từ một tới bảy ngày, hay làm bệnh nóng luôn, các nam nữ, trai gái, thà trèo lên đầu chúng con, chớ không có thể làm hại pháp sư, dầu là trong giấc chiêm bao. Mười la sát và bọn quỷ liền trước Phật nói bài kệ:
Ai chẳng thuận chú ta Não loạn người nói pháp Thời đầu vỡ bảy phần Như nhánh cây A lê
Như tội giết mẹ cha Cũng như họa ép dầu Như lường cân tráo đấu Như điều đạt phá tăng Kẻ nào phạm Pháp sư
Sẽ mắc họa như thế
Nói kệ xong, các nữ La sát bạch Phật: Thế Tôn ! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì đọc tụng kinh này, làm cho họ được an ổn, xa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc.
Phật bảo các La sát: Hay thay ! Hay thay ! chỉ ủng hộ người thọ trì tên kinh Pháp Hoa, chúng ngươi được phước chẳng thể lường, huống hồ là ủng hộ người thọ trì toàn bộ và
dùng mọi thứ hoa hương, chuỗi ngọc, tràng phan, kỹ nhạc…cúng dường kinh. Này Cao đế
! Các ngươi cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ các pháp sư như thế.
Lúc Phật nói phẩm “Đà la ni” này, có 68.000 người được “Vô sanh pháp nhẫn”.
THÂM NGHĨA
Người ta thường nói đạo Phật có 84.000 pháp môn, hay nhiều hơn nữa. Hành giả có thể chọn pháp tu nào hợp ý thích của mình. Ví như một đại thành rộng lớn, thành thì một, nhưng cửa vào thành có nhiều, ai đi cửa nào tùy ý, miễn vào được thành là đến mục đích mong ước của người đi.
Giáo lý Phật giáo, vốn đã có mầm phân chia tông phái từ Ấn độ xa xưa. Đến thời kỳ Phật giáo truyền sang Trung Quốc, Đại thừa tư tưởng phát triển thạnh hành, các tông phái lại được lập ra và sự phân hóa lại càng rõ rệt thêm hơn nữa. Dù vậy, nhưng cách diễn đạt giáo lý, cách hướng dẫn tu hành, nhìn chung thì đại đồng tiểu dị nhưng cùng một mục đích là hướng dẫn con người đi vào đường giải thoát và giác ngộ.
Đặc biệt có hai giáo phái, nhìn qua như có sự đối kháng lẫn nhau. Nhưng đi sâu vào để tìm hiểu hai sòng tư tưởng của hai chủ trương, ta thấy rõ: Họ gặp nhau ở mục đích đến, chỉ khác nhau ở lộ trình đi, chung nhau ở cứu cánh, chia nhau ở phương tiện. Đó là Hiển giáo và Mật giáo.
Hiển giáo thì tận dụng ngôn ngữ văn tự, dù phải viết, phải nói vạn ngữ thiên ngôn, chừng nào sáng tỏ vấn đề, người đọc và nghe hiểu được nghĩa lý ý thú kinh điển, áp dụng chủ thuyết: “Văn nhi tư, tư nhi tu”. Hiển giáo rất chú trọng vấn đề tri thức cho người, hướng dẫn và truyền đạt giáo lý, khiến cho người nghe học và thực hành giáo lý ấy.
Mật giáo thì ngược lại, và có thể hiểu chủ trương của mật giáo qua ý thơ của một Sư Tổ Việt Nam ở Huế mà tôi được nghe đức Hòa thượng Thượng Trí hạ Thủ, cố chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Người nói cho tôi nghe và tôi được nhớ sau đây:
“Kinh điển lưu truyền tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư Năm nay tính lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như”.
Có thể như vậy, mật giáo không chú trọng lý giải ngữ ngôn. Đà la ni là thứ văn tự ngữ ngôn không cần lý giải. Mật giáo chủ trương lối thực hành ! “Tam mật tương ứng”. Thân mật, khẩu mật, và ý mật, nghĩa là: Thân, khẩu, ý quyện chặt không rời. Thân ngồi
kiết già. Miệng tụng Đà la ni tương tục. Ý lắng nghe lời chú hoăc quán một đối tượng do hành giả pháp nguyện và hướng tâm vào. Pháp hành của hành giả trì Đà la ni là “Tam mật”
Tôi xin mở dấu ngoặc lớn ở đây: Rằng hành giả tu Mật nên để ý:
Trì Đà la ni đừng dụng ý Cầu đắc, cầu chứng, kết quả điên loạn đến với hành giả rất nhanh. Hành giả nên tâm niệm rằng: Nước trong, trăng hiện; mây tan, trời hiện; quặng hết, vàng hiện; phiền não vô minh hết, Phật tánh hiện. Bấy giờ tức thân thành Phật vậy.
Dựa trên tông chỉ Mật giáo là tam mật tương ứng, tức thân thành Phật, để luận xét ta thấy rằng trì Đà la ni nhằm dẫn dắt đưa hành giả từ “Tri kiến lập tri” lần đến “Tri kiến vô kiến” của hiện lượng trực giác và cái đích cuối cùng là “vô phân biệt trí”, thứ trí căn bản của Bồ tát Đại Trí Văn Thù.
Đà la ni là thứ văn tự ngữ ngôn, biểu trưng sự tận cùng của ngôn ngữ. Vô lượng, vô số, bất khả thuyết a tăng kỳ, hằng hà sa Phật, từ vô lượng kiếp đều sử dụng thứ ngôn ngữ
nầy. Thứ ngôn ngữ nhằm để phủ định ngôn ngữ. Phải đi đến tận cùng ngôn ngữ: rời danh tự, rời nói năng, rời tư duy phân biệt. Đó là điểm đến, là mục đích cuối cùng của pháp môn tu Mật của Đà la ni, Mật giáo.
Tam mật tương ứng rồi thì có tất cả: Thập thiện nghiệp, tứ đế pháp, thập nhị nhân duyên quán. Niệm Phật tam muội, chỉ quán, lục độ, Đà la ni v.v…hàm dung thâu nhiếp vô lượng pháp môn vậy.
Đà la ni là pháp môn hành trì đem lại cho hành giả công đức vô cùng to lớn. Bậc cao như Bồ tát Dược Vương, Dũng Thí; bậc trung như Tỳ Sa môn Thiên Vương, Trì Quốc Thiên Vương; thấp như La sát, các quỷ đều phát nguyện trì Đà la ni, lấy Đà la ni làm pháp môn tu tập, gieo giống Phật của mình.
Đà la ni, xếp vào phẩm thứ 26 của kinh Pháp Hoa, nhằm đưa hành giả Pháp Hoa lên ngang hàng với Đại Trí Văn Thù, chuẩn bị cho Đại Trí Văn Thù xuất hiện. Văn Thù và Phổ Hiền phải trùng phùng xuất hiện thì thời pháp tối thượng thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh mới đến hồi kết thúc, Đà la ni là pháp hành hiệu quả rất cao, phẩm Đà la ni chuẩn bị cho hành giả Pháp Hoa đi lần đến “Tri hành hợp nhất” vậy.










PHẨM 27
DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ
Lúc bấy giờ, phật bảo đại chúng. thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên kiếp, có đức Phật hiệu Vân Lôi Âm tú Vương Hoa Trí, tại nước Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp tên là Hỉ Kiến.
Tại Pháp hội của đức Phật đó, có một nhà vua tên là Diệu Trang Nghiêm, phu nhân tên là
Tịnh Đức và hai con tên là Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn.

Hai người con có sức thần thông lớn, có phước đức và trí tuệ, từ lâu tu tập 10 pháp ba la mật, rành cả 37 phẩm trợ đạo, lại các môn tam muội của Bồ tát như: Nhậ tinh tú, Tịnh quang, Tịnh sắc, Tịnh chiếu, Trường trang nghiêm, Đại oai đức.
Lúc đó, vì muốn dẫn đường cho vua Diệu Trang Nghiêm và cũng vì lòng thương chúng sanh, Phật Âm Lôi Âm nói kinh Pháp Hoa này.
Bấy giờ, Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn đến chỗ mẹ ở, chắp tay thưa: “Xin mẹ đến chỗ Phật Vân Lôi Âm ngự, chúng con cũng sẽ theo hầu để gần gũi và cúng dường Phật”. Vì sao ? Vì Phật đang vì Trời, người nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nên phải nghe và tin nhận.
Phu nhân bảo hai con: Cha chúng con tin theo ngoại đạo, nhiễm sâu pháp Bà la môn, các con nên qua thưa với cha chúng con để cùng nhau đồng đi.
Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn thưa: Chúng con là con của Vua Pháp, sao lại sanh vào nhà tà kiến ?
Phu nhân dạy: Các con nên thương tưởng cha các con mà hiển phép thần thông biến hóa, thấy được phép ấy, ắt lòng cha con thanh tịnh, hoặc nghe lời chúng ta mà qua đến chỗ Phật.
Ngay lúc đó, hai người con, vì tưởng nhớ đến cha, bay vọt lên hư không cao bằng bảy
cây đa la, hiện các món thần thông, như: đi, đứng, ngồi, nằm trong hư không, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn đến chiếm hết hư không rồi hiện lại nhỏ, nhỏ lại hiện ra lớn, ẩn mất trong hư không rồi bỗng nhiên hiện ra trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất.
Thấy thần lực của con như vậy, vua cha lòng rất vui mừng, như được vật chưa từng có, bèn chắp tay hướng về phía con mà nói rằng: Thầy của các con là ai ? Các con là đệ tử của ai ?
Hai con thưa: Phụ vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát tâm Vô Thượng Giác. Chúng con đã vì cha mà làm xong Phật sự rồi, vậy mong mẹ bằng lòng cho chúng con xuất gia tu hành ở chỗ đức Phật Lôi Âm. Nói xong, hai người lại đọc bài kệ:
Xin mẹ cho các con Xuất gia làm Sa môn Các Phật rất khó gặp Cho con theo Phật học Gặp hoa Ưu đàm khó Gặp Phật còn khó hơn Khỏi các nạn cũng khó, Nên cho con xuất gia.
Mẹ liền bảo: “Cho các con xuất gia, vì Phật rất khó gặp”.
Hai con liền thưa: thưa cha mẹ, như thế thì hay lắm ! Chúng con xin qua chỗ Phật Vân lôi
Âm để gần gũi cúng dường. Khó cho người gặp hoa Linh Thoại, khó cho rùa một mắt, gặp bông cây nổi, gặp được Phật cũng khó như thế. Chúng ta phước đức đời trước sâu dày nên mới sanh đời này gặp Phật pháp, bởi vậy xin cha mẹ nghe chúng con mà xuất gia. Các đức Phật khó gặp, thời kỳ gặp Phật cũng khó có.
Lúc đó, nơi hậu cung vua Diệu Trang Nghiêm có 84.000 người đều có thể thọ trì được kinh Pháp hoa này. Còn Bồ tát Tịnh Nhãn và Bồ tát Tịnh Tạng, vì muốn làm cho tất cả chúng sanh xa lìa các đường dữ, nên Tịnh Nhãn đã từ lâu thông đạt “Pháp Hoa Tam Muội”, và Tịnh Tạng từ vô lượng kiếp đã thông đạt môn “Ly chư ác thú tam muội”.
Phu nhân của vua được môn “Chư Phật Tập tam muội” năng biết tạng bí mật của chư
Phật.
Nhờ hai con dùng sức phương tiện khéo hóa độ như thế, lòng vua tin hiểu, ưa mến Phật pháp.
Bấy giờ, nhà vua với quần thần quyến thuộc, Tịnh Đức phu nhân với thế nữ nơi hậu cung, hai vương tử với 42,000 người đồng một lúc đi qua chỗ Phật Lôi Âm ở. Đến nơi rồi, tất
cả đều làm lễ rồi đứng qua một bên. Phật vì vua nói Pháp, chỉ dạy điều lợi ích, vui mừng, nhà vua lấy làm vui đẹp.
Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhân mở chuỗi trân châu giá trị trăm ngàn đang đeo ở cổ, tung rải trên đức Phật. Trong hư không, chuỗi ấy hóa thành đài báu bốn trụ, trên đài có giường báu lớn, trăm ngàn muôn thiên y phủ lên, trên đó có Phật ngồi kiết
già, phóng hào quang sáng lớn. Nhà vua mới nghĩ rằng: Thân Phật ít có, đoan trang, nghiêm chỉnh hết sức đặc thù, là một sắc thân vi diệu bậc nhất.
Bấy giờ Phật Lôi Âm bảo bốn chúng: Các người thấy vua Diệu Trang Nghiêm chắp tay đứng trước ta đó chăng? Nhà vua ở trong pháp ta, làm Tỳ kheo siêng năng tu tập các pháp trợ Phật đạo, rồi đây sẽ được làm Phật, hiệu là Ta La Thọ Vương, Phật Ta La Thọ Vương có vô lượng Bồ tát và vô lượng Thanh văn.
Vua Diệu Trang Nghiêm tức thì giao nước cho em, rồi cùng phu nhân, hai người con và quyến thuộc, ở trong Phật pháp xuất gia tu hành.
Xuất gia rồi, trong 84.000 năm, thường tinh tấn tu hành theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa; sau đó được tam muội “Nhất thế Tịnh Công đức Trang Nghiêm”. Được tam muội rồi, liền bay lên hư không, cao bảy cây đa la mà bạch Phật: Thế Tôn ! Hai người con của con đây đã làm Phật sư, dùng thần thông biến hóa xoay tâm tà của con, khiến con an trụ trong
Phật pháp mà được thấy Thế Tôn. Hai người con ấy là thiện tri thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước, làm lợi ích cho con, nên đến sanh vào nhà con.
Phật Vân Lôi Âm bảo nhà vua: Đúng thế ! Đúng thế ! Quả như lời ông nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào trồng cội lành, thì đời đời được gặp hàng thiện tri thức hay làm Phật sự, chỉ dạy cho sự lợi ích vui mừng, khiến vào đường Vô Thượng Giác.
Đại Vương nên biết ! Nhân duyên lớn nào mà giáo hóa, dìu dắt làm cho được thấy Phật, phát tâm Vô Thượng Giác thì đó là thiện tri thức.
Đại Vương ! Đại Vương thấy hai người con này chăng ? Hai người ấy đã từng cúng dường 650.000 muôn ức Hằng hà sa đức Phật, thân cận cung kính chư Phật, nơi chỗ chư Phật ở, thọ trì kinh Pháp Hoa thương tưởng những chúng sanh tà kiến mà khiến cho họ trụ trong chánh kiến.
Vua Diệu Trang Nghiêm, từ trên hư không xuống, tán thán công đức Như Lai xong, liền bạch Phật: Thế Tôn ! Thật là chưa từng có, pháp của Như Lai đầy đủ những công đức vi diệu làm nên Phật sự không thể nghĩ bàn, dạy răn việc làm, khiến được an ổn rất hay. Từ nay, con nguyện không còn theo “tâm hành” của mình nữa, chẳng sanh lòng tà kiến, ngạo nghễ, giận hờn”.
Thưa xong, vua làm lễ rồi lui ra.
Phật bảo đại chúng: Ý các ngươi nghĩ sao ? Vua Diệu Trang Nghiêm đâu phải người nào lạ, chính nay là Bồ tat Hoa Đức hiện ở trước Phật đó. Hai người con là Bồ tát Dược Vương và Dược Thượng vậy. Hai Bồ tát naỳ đã thành tựu các công đức lớn như thế, ai mà biết danh tự của hai Bồ tát đó, thì đáng cho nhân thiên lễ lạy.
Lúc Phật nói phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự” này, có 84.000 người xa trần lụy, rời cấu nhiễm, ở trong các [pháp “nhãn tịnh”.
THÂM NGHĨA
Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự nầy, Phật nói về chuyện tiền kiếp xa xưa của Bồ tát Dược Vương và Dược Thượng, hai con của Diệu Trang Nghiêm Vương cách đây vô lượng vô biên a tăng kỳ hằng hà sa kiếp, ở vào thời Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai.
Chuẩn bị nói kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, ngay ở phẩm Tựa, Phật cho đại chúng biết rằng: Cách đây vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp về trước có hai muôn đức Phật nối tiếp ra đời, cùng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, Đức Phật rốt sau vốn là một nhà
vua, trước khi xuất gia đã có 8 người con tên: Hữu Ý, Thiện ý, Vô Lượng ý, Bửu Ý, Tăng ý, Trừ Nghi ý, Hưởng ý và Pháp ý. Tám người con nghe vua cha xuất gia, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác bèn xuất gia và đều làm nên Phật sự.
Ở phẩm thứ 27, Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự sắp kết thúc thời pháp nói về kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa, Phật cũng lại nói lên câu chuyện của một nhà vua nhưng ngược lại với nhà vua được giới thiệu ở phẩm Tựa là con và vợ đi tu trước, và con đã có thần thông, vua cha thấy vậy mới xuất gia theo.
Qua hai sự kiện “lịch sử” xa xưa đó, ta thấy dụng ý bố cục về thời pháp Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Ta có thể hiểu mật ý của Phật qua hai câu chuyện ‘bổn sự” đó nhằm chỉ dạy cho người đệ tử Phật rằng: Trong nước, vua là quan trọng. Trong con người, Đệ bát thức tâm vương là quan trọng.
lật đổ, tấn phong một ông vua là phải trải qua một biến cố. Cải tạo, chuyển hóa Tâm vương cũng phải qua một biến cố “lục chủng chấn động” tức là tiền lục thức rung chuyển ở cõi đất tâm.
Ở phẩm Tựa, vua cha tu trước thành Phật, con thấy vậy xuất gia tu theo. Có nghĩa là phát tâm dũng mãnh xuất gia trước, lần lần chuyển hóa, cải tạo tiền thất thức từ từ. Ở phẩm 27, con và vợ tu trước có thần thông…vua cha thấy vậy tu theo. Có nghĩa là chuyển hóa, cải tạo tiền thất thức trước, để làm tăng thượng duyên cải tạo A lại da, chuẩn bị tiến lên quả Phật.
Hai sự kiện “lịch sử bổn sanh” lâu đời ấy chỉ cho Phật tử hai phương pháp chuyển hóa bát thức tâm vương qua hai chiều thuận nghịch. Tùy nhân duyên hoàn cảnh, mỗi người đều có thể chuyển hóa một trong hai cách, cách nào cũng thành công được.
Tịnh Nhãn biểu trưng cho nhãn thức. Tịnh Tạng biểu trưng cho ý thức.
Nói Nhãn và Ý, ẩn lược Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân thức hàm chứa ở trong đó. như nói “Tri kiến” là gồm công dụng của 6 giác quan vậy. Tịnh Đức phu nhân biểu trưng đệ thất mạt na. Vậy Tịnh Nhãn, Tịnh Tạng và Tịnh Đức phu nhân ám chỉ cho bảy thức tâm vương trước. Diệu Trang Nghiêm Vương ám chỉ cho đệ bát A laị da.
Nói rằng Tịnh Nhãn, Tịnh Tạng hiện thần biến, có nghĩa là hai người con này đã có sự tự tại giải thoát, trong mọi triền phược khổ đau mà người thường bị hãm vây ràng buộc bởi: lửa, nước, đất, không, cao, thấp, lớn, nhỏ, trên, dưới, đi, đứng, nằm, ngồi trong cuộc
sống.
Vua cha thấy sự tự tại, giải thoát của hai con mà lòng ham mộ, nghĩ rằng địa vị của một nhà vua, chỉ vì cái ta và cái của ta mà suốt cuộc đời chẳng có chút giải thoát tự do nào. Cho nên sau đó, vua giao nước cho em, rồi đi xuất gia hành đạo giải thoát.
Tâm vương mà chuyển hóa được thanh tịnh, thì tất cả tâm sở cũng sẽ được chuyển hóa theo. Vua Diệu Trang Nghiêm xuất gia theo đó 84.000 người ở hậu cung của vua cũng đều thọ trì tu học kinh Pháp Hoa thông thuộc.
Chuỗi ngọc trân châu, kim cương, vàng bạc mà sử dụng không đúng chỗ, nó trở thành nguyên nhân tai họa, đau khổ và chết chóc. Biết cởi mở, biết hiến dâng đúng thời, đúng lúc; vì giác ngộ giải thoát mà hiến dâng thì trân châu, vàng bạc trở thành như một thứ công cụ phục vụ cho Phật pháp, chói lọi ánh sáng quang minh vĩ đại, làm cho người hiến dâng thấy Phật, thấy pháp, thấy được tướng giải thoát giác ngộ ngay trước mắt.
Gặp gỡ thiện tri thức, làm tăng thượng duyên dắt dẫn cho nhau đi trên đường giải thoát giác ngộ, đó không phải là việc ngẫu nhiên. Người Phật tử phải tin như vậy. Nhưng người Phật tử cũng không được tin đó là định mệnh an bài hay sự ân sủng của một thế lực siêu nhiên. Mà đó là kết quả do ta đã gieo hạt tốt, trồng cây lành ở đời này hay đời khác.
Người thiện tri thức làm tăng thượng duyên ấy, với bản thân họ, cũng không phải chuyên ngẫu nhiên. Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí nói với vua Diệu Trang Nghiêm rằng: “Hai người con này của Đại Vương đã đồng cúng dường 65.000 muôn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật, gần gũi, cúng dường, và thọ trì kinh Pháp Hoa, thường thương tưởng những chúng sanh tà kiến mà làm người thiện tri thức để khiến cho họ được vào chánh kiến.
Vua Diệu Trang Nghiêm xưa kia, này là Bồ tát Hoa Đức ở trước Phật đây. Còn Tịnh Nhãn và Tịnh Tạng hồi đó, nay là Dược Vương và Dược Thượng Bồ tát đấy. Rõ là: Bồ tát không sợ sanh tử, chẳng ham Niết Bàn. Vì sanh tử không làm cho Bồ tát khổ đau, thì “sanh tử tức Niết bàn” vậy. Công đức tu hành, cội lành đã trồng ở vô lượng vô biên a
tăng kỳ hằng hà sa số kiếp trước, thế mà, đến nay vẫn còn là Bồ tát Hoa Đức, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dược Thượng. Các Ngài không mong Niết bàn mà cũng chưa cầu thành Phật, để rồi mình sẽ được ở một cõi nước giàu đẹp, sang trọng: vàng bạc, lưu ly pha lê…các trân bảo hợp thành.
Bởi vì Bồ tát hiểu rằng:
Với một tấm lòng đầy bất mãn thì ở trên vàng bạc, lưu ly, pha lê….cũng không an vui, giải thoát và sung sướng được đâu. Phải biết đủ, chỉ có biết đủ thì dù đạm bạc, thô sơ, giản dị cũng đủ đem lại cho người ta sung sướng, mát mẻ, an vui, thoải mái và bằng lòng. Nếu đừng cắt nghĩa chữ Niết bàn với ý tham vọng mù quáng xa xôi của những người chưa hiểu được đạo Phật thì: sung sướng, mát mẻ, an vui, thoải mái và bằng lòng đó chính là Niết bàn. Có từng ấy yếu tố là có Niết bàn rồi vậy. Tuy nhiên, Niết bàn có Niết bàn hữu thượng và Niết bàn vô thượng. Điều đó tùy thuộc ở sự đoạn “hoặc” cứu cánh hay chưa cứu cánh của mỗi người.
Thảo nào, đến nay mà ba Bồ tát còn ở cõi Ta bà, không xin “bổ nhiệm” một cảnh giới
đẹp đẽ cao sang nào khác.
Người mà biết danh tự của hai vị Bồ tát Dược Vương và Dược Thượng thì trời và người nên pháp tâm cung kính. Vì hai Bồ tát nầy phương thuốc chúa và phương thuốc thượng đẳng có thể cứu bệnh khổ chúng sanh trong vô lượng đời.








PHẨM 28
PHỔ HIỀN, BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT
Lúc bấy giờ, Bồ tát Phổ Hiền dùng sức thần thông tự tại, cùng vô lượng vô số Bồ tát và chư Thiên Long….đến núi Kỳ xà quật cõi Ta bà, làm lễ và bạch Phật: Thế Tôn ! Con ở nơi nước của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương, xa nghe ở cõi Ta bà này có thuyết kinh Pháp Hoa, nên cùng vô lượng Bồ tát đến nghe lãnh, cúi mong Thế Tôn vì chúng con, nói kinh cho nghe ! Sau khi Như Lai diệt độ, các trai lành gái tốt làm thế nào mà được kinh Pháp Hoa ?

Phật bảo Bồ tát Phổ Hiền: “Sau Như Lai diệt độ, thiện nam tử, thiện nữ nhân nào muốn
được kinh Pháp Hoa thì trước phải thành tựu 4 pháp (hội đủ bốn điều kiện) là:
1. Được chư Phật hộ niệm
2. Trồng các cội công đức
3. Vào trong chánh định
4. Phát tâm cứu tất cả chúng sanh
Bồ tát Phổ Hiền bạch Phật: Thế Tôn ! Năm trăm năm về sau, trong đời ác trược, nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, con sẽ bảo hộ họ, trừ các suy tồn, hoạn nạn, làm cho họ được an ổn và khiến các loài ma quỷ đều không có dịp làm hại. Ai trong lúc đó đứng mà thọ trì đọc tụng kinh này, thì con sẽ cởi tượng trắng cùng chư Đại Bồ tát , hiện ra trước người đó để cúng dường, bảo hộ và an ủi tâm người đó, bởi lẽ phải cúng dường kinh Pháp Hoa. Nếu người đó ngồi suy gẫm nghĩa kinh, thì con cũng cởi voi trắng hiện ra cùng người ấy chung đọc tụng và làm cho họ thông thuộc, nếu có người quên mất một câu hay một bài kệ của kinh. Người thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa mà được thấy thân con, thì lòng rất vui mừng, lại thêm tinh tấn và được tam muội cùng các “triền đà la ni”, “pháp âm đà la ni v.v..”
Thế Tôn ! Năm trăm năm về sau, trong đời ác trược, trong hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nếu có người cần mẫn thọ trì đọc tụng, biên chép kinh này mà muốn tu tập, thì trong 21 ngày, phải một lòng tinh tấn. Mãn 21 ngày rồi, con sẽ cởi voi trắng sáu ngà cùng vô lượng Bồ tát vây quanh, hiện ra trước người đó để nói pháp chỉ dạy sự lợi
ích vui mừng và cho chú đà la ni. Được chú này rồi, thì không có loài phi phân nào có thể
phá hoại được, cũng không bị nữ nhân hoặc loạn.
Bạch xong, Bồ tát Phổ Hiền đọc bài chú và tiếp thưa: Thế Tôn ! Bồ tát nào nghe được chú này, phải biết đó là sức mạnh thần thông của Phổ Hiền. Ai thọ trì được kinh Pháp Hoa, thì đó là nhờ sức oai thần của Phổ Hiền. Ai thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chính, hiểu nghĩa lý và chỉ thú của kinh, đúng theo lời kinh mà tu hành, thì người đó tu hạnh Phổ Hiền, ở nơi vô lượng Phật sâu trồng cội lành và được chư Như Lai lấy tay xoa đầu.
Nếu chỉ biên chép không, thì khi mệnh chung, sẽ sanh lên trời Đao lợi, được thiên nữ trổi nhạc đón rước, vui chơi khoái lạc, đầu đội mũ bảy báu. Còn ai thọ trì, đọc tụng, giải nghĩa, thì khi mạng chung, được ngàn đức Phật đưa tay tiếp dẫn khiến chẳng sợ sệt,
chẳng đọa vào nẽo dữ liền lên cung trời Đâu Suất được chư Đại Bồ tát và trăm ngàn muôn ức chư thiên cùng ở.
Thế Tôn ! Con xin đem sức thần thông thủ hộ kinh Pháp Hoa để sau khi Như Lai diệt độ, tại cõi Diêm phù đề, làm cho kinh này lưu truyền rộng không cho đoạn tuyệt.
Lúc bấy giờ, đức Thích Ca khen: Hay thay ! Hay thay ! Phổ Hiền ! Ông có khả năng hộ trợ kinh này, làm cho chúng sinh được an vui, lợi ích. Vì đã thành tựu nhiều công đức không thể nghĩ bàn, vì tâm từ bi của ông đã sâu lớn vì từ lâu xa ông đã phát tâm cầu Vô thượng giác, cho nên nay mới năng phát nguyện thần thông thủ hộ kinh này. Ta sẽ dùng sức thần thông mà bảo vệ người thọ trì danh hiệu của Bồ tát Phổ Hiền.
Này Phổ Hiền ! Ai thọ trì, đọc tụng, sửa đổi những nhớ tưởng của mình cho chân chính, tu tập, biên chép kinh Pháp Hoa này, nên biết người ấy ắt thấy Phật Thích Ca nói ra, nên
biết người ấy cúng dường Phật Thích Ca, nên biết người ấy được Phật khen ngợi, nên biết người ấy được Phật Thích Ca lấy áo trùm thân. Người như thế thì không còn trở lại ham mê những vui sướng của trần gian, chẳng ưa thích kinh sách của ngoại đạo, cũng chẳng còn vui gần gũi ngoại đạo, kẻ ác, hàng thịt, người nuôi heo, dê, gà, chó, hoặc thợ săn, kẻ buôn nữ sắc. Người có tâm ý chân chính, có phước đức lớn. Người đó chẳng bị ba món độc tham, sân, si làm não hại. Người đó ít ham muốn, biết đủ có khả năng tu hạnh Phổ Hiền.
Phổ Hiền ! Năm trăm năm về sau khi Phật diệt độ, thấy người thọ trì, đọc tụng, kinh Pháp Hoa, thì phải nghĩ người ấy chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng, phá các thứ ma, thành Vô Thượng Giác, chuyển pháp luân đánh trống pháp, thổi loa pháp, rưới mưa pháp, sẽ ngồi trên pháp tòa sư tử trong đám trời người.
Phổ Hiền ! Ở đời sau, ai thọ trì, đọc tụng kinh này thì người đó chẳng còn ham ưa về quần áo, giường nằm, ăn uống. Nói tóm lại là không còn thiết tha với những vật chất cần cho sự sống, còn có mong ước gì thì cũng không mong ước những việc hư huyển, lại ngay trong hiện đời, được phước báo và thẳng tiến trên đường giải thoát.
Thấy người thọ trì, đọc tụng, kinh Pháp Hoa mà chê là người vô trí điên cuồng, rốt cuộc không lợi ích gì, ai phạm tội ấy sẽ có báo ứng, đời đời không mắt . Trái lại, ai cúng dường khen ngợi, thì ngay trong hiện đời được quả báo tốt.
Thấy người thọ trì, đọc tụng và vạch bày lỗi lầm của người ấy, dầu có dầu không, thì ngay trong hiện đời phải mắc bệnh cùi. Còn khinh cười thì đời đời răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi xẹp, tay chân cong queo, mắt lé, thân thể hôi dơ, ghẻ độc máu mủ, bụng thủng, thở ngắn và các bện nặng khác. Vì vậy, này Phổ Hiền, nếu thấy người thọ trì kinh nầy thì phải đứng dậy ra xa tiếp rước, như kính đón Phật vậy.
Lúc Phật nói phẩm “Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát này” có hằng hà sa Bồ tát được muôn ức đà la ni. Chư Bồ tát đông như bụi trong 3.000 đại thiên thế giới được đầy đủ hạnh Phổ Hiền.
THÂM NGHĨA
Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát được xếp vào phẩm thứ 28 cuối cùng của bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nó có ý nghĩa nghệ thuật về hình thức bố cục, có ý nghĩa sâu xa về nội dung giáo lý.
Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát, có nghĩa là khuyên hành giả Pháp Hoa phát khởi hạnh Phổ Hiền. Phổ Hiền được biểu trưng cho đức Tinh Tấn. Hạnh khắp pháp giới là Phổ. Vị gần quả Phật là Hiền.
Nếu Phổ Hiền biểu trưng cho Lý, thì Văn Thù biểu trưng cho Trí. Văn Thù là Tri thì Phổ
Hiền là Hành.
Văn Thù xuất hiện giới thiệu kinh Pháp Hoa ở phần đầu, Phổ Hiền xuất hiện kết thúc kinh Pháp Hoa ở phần cuối. Cái ý nghĩa biểu trưng qua danh hiệu của hai Bồ tát, đến đây chúng ta được nhận thấy rõ ràng.
Cũng như Bồ tát Diệu Âm ở phẩm Diệu Âm, Bồ tát Phổ Hiền từ phương Đông xuất hiện, trên đường đi đến cõi Ta bà để nghe Phật giảng kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, các nước Bồ tát đi ngang qua đều rung động: Vô lượng trăm ngàn muôn ức các thứ kỹ nhạc không trổi tự kêu, hoa sen báu trổ đầy khắp đất.
Cũng vậy, với cõi đất tâm của tất cả chúng ta khi phát khởi lòng tin tấn tu học Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa thì cõi lòng sẽ rung động biến chuyển: hiện tượng khinh an giải thoát sẽ đến với ta và cõi lòng sẽ vui tươi đẹp đẽ, nhìn đâu cũng đẹp như hoa, nghe đâu cũng êm ái, cũng vui tươi như nhạc.
Sau Phật diệt độ, đệ tử Phật muốn được Pháp Hoa tam muội, cần phải có bốn điều:
1. Được các Phật hộ niệm. Nghĩa là phải thắp sáng hiện hữu, giữ tâm luôn luôn ở
trong trạng thái giác chiếu.
2. Trồng cây công đức. Hành giả phải luôn luôn phát triển hạnh lành.
3. Siêng tu chánh định. Phải giữ tâm thanh tịnh, ngăn dứt vọng niệm tạp tưởng.
Nhơn, ngã, thị, phi.
4. Phát tâm cứu giúp tất cả chúng sanh. Thể hiện lòng từ qua hành động vị tha vô ngã.
Bốn điều Phật dạy cho Bồ tát Phổ Hiền cũng tức là dạy cho Phật tử hậu lai, những ai tu hành muốn đắc Pháp Hoa tam muội.
Tu hạnh Phổ Hiền (tinh tấn) thì tất cả các loại ác ma không có cơ hội làm hại, vì Phổ Hiền đã phát nguyện: Phổ Hiền sẽ cởi bạch tượng hiện đến thủ hộ an ủi hành giả và cúng dường kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Phổ Hiền sẽ cởi bạch tượng đến nhắc cho hành giả những câu, những nghĩa lý Pháp Hoa mà hành giả quên sót.
Phổ Hiền khiến cho người thọ trì đọc tụng Pháp Hoa được thấy Phổ Hiền lòng sanh vui mừng và thêm tinh tấn. Hành giả sẽ được tam muội và các thứ “triền đà la ni” “pháp âm phương tiện đà la ni” và trăm ngàn muôn ức đà la ni khác.
Tu tập là việc làm thường xuyên, ngừa lỗi dứt ác là việc làm suốt cả cuộc đời. Tuy vậy, cũng phải ấn định mốc thời gian để hành giả tập trung sức tinh tấn, trong kỳ hạn nào đó, hợp khả năng, hoàn cảnh của mỗi người, 21 ngày, 49 ngày, 80 ngày, 100 ngày hay 120
ngày chỉ là bước đi từng bước trên con đường dài đi đến giác ngộ giải thaót. Định mốc thời gian để trắc nghiệm , sức tinh tấn của mình. Nếu sức tinh tấn kiên trì, hành giả se thân thấy Phổ Hiền hiện đến nói pháp cho nghe và khiến cho hành giả thành tựu Vô phân biệt trí (Phổ Hiền cho chú Đà la ni).
Phổ Hiền cho chú Đà la ni …có nghĩa là hành giả với sức tinh tấn của mình sẽ đạt đến
Vô phân biệt trí.
Hành giả được Vô phân biệt trí do sức tinh tấn thọ trì, đọc tụng Đại thừa Diệu Pháp
Liên Hoa kinh, đó là sự kết quả của: “Tri hành hợp nhất” vậy.
Hành giả đạt đến tri hành hợp nhất và nhiệm vụ của Văn Thù và Phổ Hiền được hoàn thành. Cho nên Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh được kết thúc ở phẩm: “Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát”.
Cách bố cục của kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa nhằm hướng dẫn cho hành giả Pháp Hoa từ Tri đến Hành đến Chứng thể nhập tri kiến Phật. Cái dụng ý đó, đến đây hành giả nhận thấy rõ ràng hơn.
Người thực hành hạnh Phổ Hiền là người đã trồng sâu gốc rễ lành trong vô lượng vô biên các Phật. Người đó được chư Phật lấy tay xoa đầu, lấy y mà trùm cho.
Hạnh Phổ Hiền là hạnh tinh tấn trong tinh tấn. Đối với Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh, thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng nói, tìm hiểu ý thú, ghi nhớ chân chánh, như thuyết tu hành, đó là hạnh Phổ Hiền, là Phổ Hiền Bồ tát hiện thân.
Người thọ trì, đọc tụng tu tập kinh Pháp Hoa là người thấy tánh, cho nên chẳng bao lâu thành Phật và làm tất cả việc Phật.
Chê bai khinh rẻ kinh Pháp Hoa là chê bai khinh rẻ chân lý, phủ nhận Phật tánh, chối bỏ khả năng thành Phật của mình, người đó sẽ sống đời sống hắc ám vô minh, như ô uế, hôi tanh, như người hủi lở….Người đó không bao giờ nhận thức, thấy được chân lý như mù, sống trong dày vò tà kiến, như tay chân cong quẹo, lời nói chẳng ai thích nghe, như môi sứt, răng sếu; người trí xa lánh như xa lánh kẻ lở lói hôi tanh.
Tóm lại, Chê bai kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa thì những người này luôn luôn bị dày vò đau khổ, vì sống không có ánh sáng trí tuệ, họ sẽ đau khổ triền miên như tâm trạng những kẻ cùng một lúc bị nhiều bạo bệnh liên tục hoành hành.
Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

* Quý vị có thể để lại nhận xét, cảm nhận dưới mỗi bài viết nhưng:
- Không bàn luận đến chính trị của các quốc gia trên thế giới.
- Không được bàn luận hay phỉ báng bất kỳ tôn giáo nào khác.
- Không bàn luận tới sắc tộc gây chia rẽ các dân tộc trên toàn thế giới.
- Không viết những lời thô tục
- Không xúc phạm, chửi bới người khác
- Không đặt liên kết tới những Website đen, có chứa Vi rút hay những phần mềm có chứa mã độc hại
+ Chỉ bàn luận những lĩnh vực liên quan tới Phật Giáo.
+ Hãy giới thiệu Website này tới những người thân, bạn bè của quý vị. Những người không theo, sẽ theo và đã theo Đạo Phật đều có thể xem và tim hiểu trên Website này.
* Trân trọng cám ơn!